Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Với sự ra đời và phát triển của TCVM đã được nhiều tác giả nghiên cứu trên thế giới, các nước trong khu vực và tại Việt Nam dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau như về thể chế hoạt động, tác động đến các vấn đề xã hội đó là xóa đói giảm nghèo; các quan điểm về phát triển tổ chức; đo lường hiệu quả hoạt động của các tổ chức…Trong khuôn khổ luận án, NCS tổng hợp các công trình nghiên cứu theo 3 nhóm sau: Quy mô cung ứng dịch vụ và tính bền vững của các tổ chức TCVM, tăng khả năng tiếp cận của khách hàng TCVM và tác động đến vấn đề xóa đói giảm nghèo nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo. Nghiên cứu về quy mô cung ứng dịch vụ và tính bền vững các của các tổ chức TCVM “Nghiên cứu về “Assessing Outreach and Sustainability of Microfinance Institutions in Cambodia” của Sophyrum Heng (2015) [51]. Luận án thực hiện đánh giá hoạt động tiếp cận và tính bền vững của các tổ chức TCVM tại Campuchia và Indonesia giai đoạn từ 1995-2014.
Nghiên cứu đề cập đến tính bền vững của tổ chức TCVM; Tiếp cận và tăng trưởng TCVM; các yếu tố quyết định tính bền vững của tổ chức TCVM của Campuchia. Phương pháp sử dụng mô hình OLS để nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển hoạt động của các tổ chức TCVM. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hoạt động tín dụng và tiết kiệm của các tổ chức TCVM có quy mô lớn tại Campuchia có sự tăng trưởng mạnh. Qua nghiên cứu cho thấy ba yếu tố quan trọng quyết định sự bền vững đối với các tổ chức TCVM là: 1) Tăng trưởng tổng danh mục cho vay; 2) Chi phí hoạt động/tài sản; 3) Quy mô cho vay trung bình trên đầu người.
Kết luận rằng khi danh mục cho vay tăng quá nhanh thì tính bền vững của các tổ chức TCVM thấp. Vì vậy nên kiểm tra tốc độ tăng trưởng phù hợp để duy trì sự bền vững. Bên cạnh đó yếu tố chi phí 10 hoạt động theo tỷ lệ tài sản tác động đến tính bền vững. Theo đó, các tổ chức TCVM đáp ứng nhu cầu vốn cho người nghèo phải tốn chi phí nhiều hơn các tổ chức cung cấp tài chính khác trong khi đó doanh thu thấp hơn.
Quy mô cho vay trung bình tác động đến tính bền vững, quy mô cho vay đối với người có thu nhập thấp sẽ nhỏ vì đã chọn đối tượng này phục vụ. Nghiên cứu chỉ ra rằng không phải nhu cầu vay vốn lúc nào cũng có, các khoản vay có yếu tố trợ cấp có chi phí rẻ sẽ làm tăng xu hướng vay của khách hàng trong khi không có nhu cầu thực sự sẽ dẫn đến tình trạng không trả được nợ. Vì vậy, công tác giáo dục tài chính giúp cho người nghèo hiểu biết nhu cầu tài chính, cách thức chi tiêu và tiết kiệm để tránh gánh nặng cho bản thân và gia đình là rất cần thiết. Hạn chế của nghiên cứu là hiệu quả hoạt động của các tổ chức TCVM chưa đề cập đến góc độ xã hội.
Nên khi xem xét tính bền vững và phát triển của tổ chức loại trừ các yếu tố mang tính xã hội. Nghiên cứu về “Disclosing the loan officer’s role in microfinance development” của Siwale and Ritchie (2012) [65]. Nghiên cứu được thực hiện ở Zambia, là một quốc gia nghèo với 65% dân số sống dưới ngưỡng nghèo quốc gia. Nghiên cứu chỉ ra rằng TCVM cung cấp các dịch vụ tài chính cho khách hàng cụ thể như nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán và các dịch vụ tài chính khác.
Các cán bộ cho vay được các tổ chức TCVM và các tổ chức phi chính phủ tuyển dụng, đánh giá năng lực ban đầu bằng khả năng xâm nhập vào các tổ chức TCVM, được đào tạo các nghiệp vụ cơ bản của hoạt động tín dụng vi mô. Cán bộ cho vay với vai trò là người hỗ trợ người nghèo, người thu nợ thông qua các đại lý, được ưu tiên là những người ở các địa phương gắn với các địa bàn cư trú và là các chủ thể đại diện cho người nghèo. Các cán bộ này không ngừng phát huy vai trò tương hỗ, giúp đỡ cho người nghèo mà đặc biệt cho phụ nữ nghèo trong việc vay vốn, quản lý vốn, trả nợ và giám sát vay…. Nghiên cứu được thực hiện kết hợp phương pháp quan sát, phỏng vấn bán cấu trúc, thảo luận nhóm tập trung, thảo luận không chính thức.
Kết quả ghi nhận từ phỏng vấn 59 cuộc chính thức với 18 nhân viên làm việc với vai trò 11 cán bộ tín dụng. Kết quả cho thấy là giữa cán bộ cho vay và nhà quản lý cần có gắn kết với nhau để có sự đảm bảo được an ninh tài chính cho các tổ chức TCVM, vì cán bộ trên có sự ưu tiên cho lợi ích nhóm tại các địa phương, đôi lúc khó kiểm soát đến mức độ rủi ro của món vay trong khi các tổ chức tài chính thật sự là một trung gian tài chính cần có xem xét đến hiệu quả tài chính. Hạn chế của nghiên cứu là mẫu được phỏng vấn và khảo sát tương đối nhỏ, không ghi lại đầy đủ các nội dung. Các dữ liệu nghiên cứu của quốc gia này thiếu tập trung và chưa đầy đủ.
Nghiên cứu về “Efficiency of microfinance institutions in Sri Lanka: a two-stage double bootstrap DEA approach” của Wijesiri M, Viganò L, và Meoli M (2015) [66]. Nghiên cứu thực hiện trên 36 tổ chức TCVM ở Sri Lanka. Đây là một nghiên cứu lý thuyết, sử dụng phương pháp bootstrap DEA để nghiên cứu cho 4 nhóm tổ chức TCVM tại nước này. Bao gồm, ngân hàng được cấp phép hoạt động; các tổ chức tài chính phi ngân hàng; các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức TCVM.
Nghiên cứu cho thấy: Một là, các tổ chức TCVM khó đạt được điểm hòa vốn trong giai đoạn đầu hoạt động, vì thế việc mở rộng quy mô và tăng cường công tác quản lý dễ dàng mang lại lợi nhuận cho các tổ chức TCVM. Hai là, các tổ chức TCVM, các tổ chức phi chính phủ được đề cao hiệu quả xã hội trong hoạt động, nhưng bên cạnh đó phải quan tâm đến hiệu quả tài chính. Nghiên cứu mới chỉ thực hiện trên cơ sở dữ liệu cắt ngang 1 năm, vì vậy quá ngắn, kết quả chắc chắn thay đổi trong dài hạn. Và hiệu quả tài chính được xem xét qua chỉ tiêu lợi nhuận là chưa đủ, cần xem xét qua các khía cạnh khác.
Nghiên cứu về “Are Financial and Social Efficiency Mutually Exclusive? A Case Study of Vietnamese Microfinance Institutions” của Lebovics et all (2017) [53]. Nghiên cứu xem xét tranh luận về phân tích bền vững tài chính và hiệu quả xã hội có loại trừ nhau không? Nghiên cứu được thực hiện trên dữ liệu 28 tổ chức TCVM tại Việt Nam, được thu thập trên trang http://www.org, để tiến hành phân tích các câu hỏi nghiên cứu tập 12 trung vào hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội của các tổ chức TCVM là có mối liên hệ với nhau. Hiệu quả được cho rằng là kết quả của một quá trình trong đó chi phí đầu vào được giảm thiểu để đạt mức đầu ra nhất định, mà đầu ra là cả tài chính và xã hội. Tác giả đánh giá hoạt động TCVM của Việt Nam có sự khác biệt đáng kể về lịch sử và cấu trúc so với các nền kinh tế mới nổi khác trong khu vực.
Bởi hoạt động TCVM tại Việt Nam được sự tham gia một cách tích cực của các tổ chức đoàn thể và NHTM. Câu hỏi tác giả đặt ra là có sự có sự trợ cấp ngầm cho hầu hết các tổ chức TCVM tại Việt Nam đang hoạt động ảnh hưởng đến tài chính và xã hội hay không? Mô hình hoạt động như thế có hiệu quả trong dài hạn hay không?. Nghiên cứu loại bỏ Quỹ tín dụng ra khỏi tổ chức TCVM, vì lý do hoạt động của Quỹ tín dụng cung cấp dịch vụ tín dụng và tiết kiệm cho hộ nông dân địa phương và các tầng lớp trung lưu, không cung cấp tín dụng cho người nghèo nhất. Nghiên cứu cho thấy tổ chức TCVM tại Việt Nam có quy mô nhỏ hơn nhiều so với các tổ chức TCVM khu vực Châu Á- Thái Bình Dương về tài sản, danh mục cho vay, số lượng nhân viên.
Tổ chức TCVM Việt Nam ít khách hàng hơn và chủ yếu là phụ nữ. Cán bộ tín dụng đang phục vụ số lượng khách hàng cao hơn nhiều nước nhưng giám sát khoản vay thực hiện bởi nhân viên từ Hội LHPN chứ không phải nhân viên của tổ chức TCVM. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là nghiên cứu thực nghiệm, đo lường hiệu suất của các tổ chức TCVM về mặt hiệu quả tài chính hoặc xã hội so với hiệu suất tối đa. Tác giả sử dụng phương pháp lọc dữ liệu (DEA).
DEA kết hợp dữ liệu đầu vào và đầu ra để tính hiệu quả thực tế tốt nhất. - Các biến sử dụng bao gồm: + Biến đầu vào: Tổng nợ phải trả, chi phí hoạt động, tổng số nhân viên. + Biến đầu ra: Dư nợ khoản vay, doanh thu tài chính. + Biến đầu ra xã hội: Mức độ tiếp cận nghèo theo chiều rộng và chiều sâu.
Kết quả phân tích DEA chỉ ra rằng các tổ chức TCVM Việt Nam cả hai 13 hiệu quả tài chính và xã hội không có mối quan hệ nào, nên có thể thấy có sự đánh đổi giữa hai hiệu quả trên nên việc tiếp cận xã hội là chưa có căn cứ xác đáng tại Việt Nam. Vì thế Chính phủ đã thay đổi những chính sách về các khoản trợ cấp cho lĩnh vực TCVM và bắt đầu khuyến khích các tổ chức này phát triển dựa trên thị trường tài chính thông qua các tổ chức phi chính phủ độc lập hoặc các tổ chức TCVM tư nhân được cấp phép. Tuy nhiên, phương pháp lọc dữ liệu DEA không xử lý được các lỗi đo lường, nó áp đặt về tính đồng nhất. Số liệu thu thập cho nghiên cứu chưa thật sự đầy đủ, chưa đề cập đến các tổ chức tín dụng cung cấp các dịch vụ TCVM.
Số liệu thu thập chỉ năm 2011, dãy số chưa đủ dài.