chương I của Nghị định thì khái niệm DNNVV như sau: “DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”. Khái niệm DNNVV được quy định trong Nghị định là khái niệm chính thức được áp dụng chung trong cả nước để phân loại DNNVV, là căn cứ mang tính pháp lý để phân loại, lựa chọn doanh nghiệp (DN) là những đối tượng được hưởng lợi của các chính sách, các chương trình hỗ trợ các DNNVV. Trong Nghị định nêu rõ: căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biên pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai tiêu chí vốn và lao động hoặc một trong hai tiêu chí nói trên. Trong phạm vi nghiên cứu của Đề tài, DNNVV nói chung và DNNVV ngành Dệt - May nói riêng được hiểu là DN có ít nhất một tiêu chí về vốn hoặc lao động và DN có đồng thời hai tiêu chí theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh. Trong kinh tế, cạnh tranh có thể được hiểu là: “Sự ganh đua giữa các nhà DN trong việc giành một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường” 1. Cạnh tranh kinh tế là quy luật tất yếu của sản xuất hàng hóa, dịch vụ.
Mức độ phát triển của sản xuất hàng hóa, dịch vụ tỷ lệ thuận với mức độ cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh. Sự cạnh tranh diễn ra quyết liệt, liên tục giữa các sản phẩm, dịch vụ cùng loại; giữa các DN; giữa các ngành; giữa các quốc gia…tạo động lực phát triển. * Năng lực cạnh tranh của DN. Cho đến nay có nhiều khái niệm được đưa ra, đây là một thuật ngữ được sử dụng để đánh giá cho tất cả các DN, ngành và quốc gia, hoặc cả các khu vực liên quốc gia.
Tổng hợp theo các khái niệm của Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp Hoa Kỳ, báo cáo về cạnh tranh toàn cầu và diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của OECD thì năng lực cạnh tranh của DN xét trong bối cảnh của đề tài được hiểu như sau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các DN trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn, trong điều kiện cạnh tranh khu vực và quốc tế. Khả năng đó đem lại những thành quả về tăng trưởng nhanh và bền vững góp phần tích cực cho tăng trưởng kinh tế của quốc gia”. Năng lực cạnh tranh của DN gắn liền với năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ do DN tạo ra. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm được xác định bằng thị phần của sản phẩm trên thị trường.
Việc tăng hay giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm không nhất thiết có tốc độ đồng hướng với khả năng cạnh tranh của DN, nguyên nhân là do DN có thể sản xuất nhiều loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau với mức độ cạnh tranh khác nhau trên thị trường. Tuy nhiên trên cùng một thị trường khả năng cạnh tranh của sản phẩm và của DN thường rất gần với nhau. Khả năng cạnh tranh các sản phẩm của DN phụ thuộc rất lớn vào trình độ và năng lực công nghệ của DN. Tuy nhiên trình độ công nghệ cao nhưng năng lực công nghệ thấp thì chất lượng sản phẩm, dịch vụ có thể thấp; năng lực công nghệ được tổng hợp từ 4 thành tố cấu thành công nghệ.
DN có năng 1 (CIEM): Cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách cạnh tranh ở Việt Nam; NXB Lao động; Hà Nội, 2000. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lực công nghệ càng cao thì chất lượng sản phẩm càng ổn định, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Hội nhập quốc tế và sự phát triển của DN Việt Nam. Năm 1986, Đảng và Chính phủ Việt Nam bắt đầu quá trình đổi mới, đổi mới và mở cửa đã tạo ra động lực thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam.
Bằng chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có kinh tế tư nhân. DN phát triển nhanh chóng và đa dạng với nhiều loại hình khác nhau: DN nhà nước; DN liên doanh; DN 100% vốn nước ngoài; DN tư nhân; công ty cổ phần; công ty TNHH; HTX; các hộ kinh doanh cá thể. Với chính sách mở cửa, nới lỏng các hạn chế về thương mại, kêu gọi và khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, từ giai đoạn này hình thành các khuynh hướng phát triển khác nhau trong cộng đồng DN. * Các doanh nghiệp nhà nước (DNNN).
- “Tính đến đầu năm 2006, cả nước còn 4.086 DNNN đang hoạt động, chỉ còn chiếm 3,6% tổng số DN đang hoạt động của toàn bộ nền kinh tế và chỉ còn chưa bằng một phần ba tổng số DNNN trước đổi mới. Theo tiến độ cổ phần hóa tới đây, tỷ lệ trên còn giảm nhanh và còn thấp hơn nữa. - Quy mô lao động bình quân một DNNN cao hơn khu vực DN dân doanh và DN có vốn đầu tư nước ngoài (499,5 người so với 28,2 người và 330,2 người) nhưng số lao động làm việc trong các DNNN đang giảm dần cả về tuyệt đối (từ trên 4.114 nghìn người đầu năm 2002 giảm xuống còn gần 2.041 nghìn người đầu năm 2006), cả về tỷ trọng trong tổng số lao động làm việc ở tất cả các DN (từ 53,8% xuống còn 32,7% trong thời gian tương ứng). - Tỷ trọng số vốn của DNNN trong tổng số vốn của các DN bị giảm mạnh (từ 55,9% năm 2001 xuống còn 54,9% năm 2005), trong khi của DN dân doanh lại tăng lên (từ 12% lên 25%).
- Về kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh, trừ những DNNN có lợi thế kinh doanh, được hưởng nhiều chính sách đặc biệt là có kết quả và hiệu quả cao, còn lại nhìn chung là thấp. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam năm 2005 doanh thu đạt 42.310 tỷ đồng lợi nhuận đạt 24. Tập đoàn Điện lực Việt Nam doanh thu đạt 38.818 tỷ đồng, lợi nhuận đạt 3.200 tỷ đồng, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông, doanh thu đạt 32.760 tỷ đồng, lợi nhuận đạt 11. Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản doanh thu đạt 22.788 tỷ đồng, lợi nhuận đạt 3.Tính chung trong giai đoạn 2001-2005, doanh thu của DNNN chỉ tăng 9,1%/năm, trong đó năm 2005 chỉ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tăng 7,2% so với năm 2004, tức là chỉ cao hơn tốc độ tăng giá tiêu dùng một chút” 2.
Theo báo cáo của Ban Đổi mới DNNN, đến hết tháng 9/2006, cả nước có 105 tập đoàn và tổng công ty, cụ thể, gồm 7 tập đoàn, 13 tổng công ty 91; 83 tổng công ty thuộc các bộ, ngành, địa phương và 2 tổng công ty thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - khoáng sản VN. Dự kiến đến cuối năm 2010, cả nước còn 554 DN 100% vốn Nhà nước, trong đó có 26 tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn 3. Giai đoạn 1986-1990 là thời kỳ hết sức khó khăn của các HTX, hàng loạt các HTX không thích ứng với cơ chế thị trường đã phải giải thể, số lượng giảm mạnh. Năm 1996, Luật HTX ra đời.
Các HTX được khuyến khích và hướng dẫn chuyển sang hoạt động theo các quy định của Luật. Một số lượng đáng kể HTX hoạt động thành công về cả hai phương diện kinh tế và xã hội. Hầu hết các HTX có quy mô nhỏ và vừa như được quy định trong Nghị định 90/2001/NĐ-CP. BiÓu ®å 1: HTX ph¸ t t r iÓn giai ®o¹ n 2002-2007 t h¸ ng 2007 (Nguồn: số liệu thống kê của Liên minh HTX Việt Nam 25.vn) “Tính đến cuối năm 2006, cả nước có trên 17.000 hợp tác xã, trong đó có khoảng 8.500 hợp tác xã nông nghiệp, 2.150 hợp tác xã công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, trên 600 hợp tác xã thương mại - dịch vụ, trên 500 hợp tác xã xây dựng, gần 500 hợp tác xã thuỷ sản, trên 1.100 hợp tác xã giao thông vận tải, trên 2.600 hợp tác xã dịch vụ điện năng, 50 hợp tác xã môi trường.
và trên 900 quỹ tín dụng nhân dân. Các hợp tác xã đã tạo việc làm và thu nhập 2 DNNN mạnh hay yếu?. Dương Ngọc, Báo Điện tử - TBKT Việt Nam 25. 3 DN nhà nước - quy mô mới bệnh tật cũ.
Hải Lan, Báo điện tử VNN 6. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho trên 10 triệu lao động với mức thu nhập bình quân 300.000 đồng/tháng, đóng góp 8% GDP” 4. * Khu vực kinh tế tư nhân. Khu vực kinh tế tư nhân bao gồm các loại hình DN khác nhau như: DN tư nhân, công ty TNHH, công ty TNHH một thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp danh.
Đến năm 2000 Việt Nam có 60. Hầu hết các DN này thuộc khái niệm DNNVV. Qua 2 lần sửa đổi Luật DN năm 1999 và năm 2005, đến nay các DN thuộc khu vực kinh tế tư nhân tăng nhanh cả về số lượng và vốn đăng ký, bảng 1: Bảng 1: DN đăng ký mới và vốn đăng ký, giai đoạn 2001-2007 Năm ĐVT 2002 2003 2004 2005 2006 2007 DN đăng ký mới Dn 21.908 Vốn đăng ký Tỷ đ 38.182 Tăng trưởng số lượng. % 8,8 29,0 34,1 7,3 16,8 26,2 Tăng trưởng vốn.
% 49,5 50,0 24,8 49,8 37,2 230 Vốn BQ/DNNVV Tỷ đ 1,79 2,08 1,94 2,70 3,18 8,30 Nguồn: DN Việt Nam 2007 - Báo cáo thường niên VCCI, 2008; Trung tâm Thông tin DN (Cục Phát triển DNNVV-Bộ KH & ĐT), 2008. BiÓu ®å 2: Doanh nghiÖp ®¨ ng ký mí i vµ vèn ®¨ ng ký giai ®o¹ n 2001-2007 37.771 nghiÖp Vèn ®¨ ng ký (tû ®ång) Năm 2002 có 21.535 DN mới với số vốn đăng ký 38.529 tỷ đồng, tuy chỉ tăng 8,8% về số lượng nhưng đã tăng đến 49,5% về số vốn. Năm 2003, số DN tăng lên 29%, số vốn tăng đến 50% và đến năm 2004 đã có thêm 37.230 DN mới đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký đạt 72.100 tỷ đồng, tăng 34,1% về số DN và 24,8% về vốn đăng ký so với năm 2003. Từ khi Luật DN được Quốc hội ban hành ngày 29.2005 số lượng DN tăng nhanh về số lượng, vốn đăng ký và bình quân vốn/DN.
Năm 2005 bình quân vốn/DN là 2,7 tỷ đồng, đến năm 2006 là 3,18 tỷ và năm 2007 là 8,3 tỷ đồng. So với năm 4 Nghiên cứu trao đổi, Website Thời báo Kinh tế Việt Nam 17. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2006, năm 2007 số lượng DN đăng ký mới là 58.908 DN tăng 26,2%, về vốn đăng ký đạt 489.