đặt vấn đề DN và cụ thể các SBU của nó phải cạnh tranh hoặc hợp tác ra sao trong một ngành KD. Trong bối cảnh tình thế CL của các SBU liên tục có sự biến động, thay đổi "các SBU không tĩnh - Hugh Townsend, 2001) thì CLKD của nó cũng phải luôn luôn trong trạng thái "động". Mặc dù các thay đổi trong môi trường KD có thể tác động hàng ngày, hàng giờ. Tuy nhiên dưới góc độ tiếp cận của phân tích CLKD thì chỉ có các thay đổi lực lượng, tác nhân có tác động "đủ lớn" về cường độ, có hiệu ứng "đủ rộng" về phạm vi và "đủ dài" về thời gian mới được đưa vào phân tích, cân nhắc quyết định CL và ta gọi đó là những thay đổi ở tầm CL (gọi tắt là các thay đổi CL) để phân biệt với những thay đổi có tính tác nghiệp, mang tính nhất thời, ngắn hạn, cục bộ, phạm vi hẹp.
Trong nguyên lý QTCLKD hiện đại, CLKD của DN không chỉ là CL để sản xuất một hay một vài sản phẩm/ dịch vụ cụ thể mà cao hơn, nó là một CL để sáng tạo, truyền thông và cung ứng các giá trị cho khách hàng và thỏa mãn nhu cầu khách hàng trên một thị trường xác định. Quá trình này cho thấy, để đưa một CLKD được hoạch định vào giai đoạn thực thi, việc triển khai thực thi và kiểm soát hiệu suất CL là một quá trình liên tục triển khai làm thích nghi với những thay đổi CL từ môi trường, triển khai quản trị những thay đổi trong cấu trúc CL (hay còn gọi là tái cấu trúc CL) để tạo cân bằng các nguồn lực, các quá trình, các năng 23 lực cung ứng giá trị theo những biến đổi của cầu thị trường mà không làm thay đổi sứ mạng, tầm nhìn và định hướng CL của các SBU của DN. Đây chính là nội hàm của một khái niệm mới trong QTCL mà Tom Cannon gọi là khái niệm "phát triển CLKD". Rõ ràng là một CLKD dù được hoạch định tốt và chi tiết đến đâu cũng phải dựa trên các thông số đầu vào của phân tích TOWS, khi đưa CLKD được hoạch định này vào hiện thực cuộc sống và yếu tố thời gian thực "real time" thì các thông số đầu vào và cấu trúc CLKD trên không còn đúng và thậm chí không còn phù hợp để thực hiện sứ mạng, định hướng CLKD đã xác lập của DN.
DN cần có những quyết định triển khai cụ thể hóa, những cải biến các yếu tố nội dung tái cấu trúc CL cho thích nghi với những thay đổi CL và mang lại hiệu suất mục tiêu CL cao hơn. Những quyết định này được gọi là quyết định phát triển CLKD. Một điểm cần lưu ý rằng, trong trường hợp những thay đổi có tính đột biến, có cường độ và phạm vi quá mạnh và rộng, đòi hỏi phải thay đổi cả sứ mạng & định hướng CLKD của DN thì phải cải tổ hay tái hoạch định CLKD (bao gồm tái tư duy, tái thiết kế và tái xây dựng) và việc này không thuộc phạm vi của phát triển CLKD đã được hoạch định nữa mà thuộc về một chu kỳ QTCL mới. Từ tiếp cận trên và tổng hợp các khái niệm về phát triển CLKD của các tác giả: M.
Cannon cho phép đưa ra một khái niệm chung sau: "Phát triển CLKD là quá trình triển khai cụ thể hóa nội dung, tái cấu trúc và tái thiết CLKD đã được hoạch định cho các nhóm SBU và quản trị sự thay đổi, sáng tạo để làm thích nghi hiệu suất CLKD trong môi trường kinh doanh của DN nhằm đạt được các mục tiêu CLKD của DN trong dài hạn". [Tác giả] Từ khái niệm trên, cho phép rút ra một số kết luận sau: - Phát triển CLKD phải lấy điểm xuất phát và hạt nhân là phát triển CL thị trường và định vị trên thị trường mục tiêu của DN; điều này được dựa trên nền tảng sứ mạng, tầm nhìn và định hướng CL của các cặp SBU/thị trường mục tiêu đã được hoạch định; đến lượt nó, phát triển CLKD phải triển khai để lựa chọn loại hình CL thị trường và phát triển định vị SBU theo định hướng CL để gia tăng giá trị được chia sẻ và cung ứng cho khách hàng, đáp ứng có hiệu suất cầu thị trường mục tiêu. Cannon có viết "Thực chất của phát triển CLKD của DN là phát triển quản trị cầu thị trường đang thay đổi. - Mỗi CLKD đều được thiết lập cho một SBU nghĩa là cho một cơ cấu tách biệt cho một sản phẩm hoặc thị trường hoặc tổ chức KD chủ chốt trong một DN KD đa tuyến sản phẩm, đa ngành, đa lĩnh vực.
Trong phát triển CLKD, người ta thường hợp nhóm các SBU có cùng một mô thức kênh marketing cho một thị trường mục tiêu (gọi tắt là nhóm SBU). - Về vị trí, phát triển CLKD là sự tiếp nối của khâu hoạch định để đưa CLKD được hoạch định vào cuộc sống DN; trong quá trình đó có sự thay đổi, tái cấu trúc "restructuring", tái thiết "re-engineering" các yếu tố, các nguồn lực, các năng lực, các quá trình KD cốt lõi để thích nghi với môi trường KD và mang lại hiệu suất CL cao mà vẫn dựa trên nền tảng sứ mạng và định hướng CLKD của DN. - Về nội hàm, phát triển CLKD của DN bao hàm phát triển MIS CL để phân tích môi trường ngoại vi và nội tại của DN nhằm nhận dạng & đánh giá những thay đổi CL cần phát triển CLKD, tái cấu trúc hoặc tái thiết loại hình CLKD, phát triển CL đổi mới công nghệ & sản xuất sản phẩm mới, tái cấu trúc các năng lực & tái thiết các quy trình KD cốt lõi, phát triển CL TM nội địa và XK, phát triển cấu trúc tổ chức, lãnh đạo và văn hóa DN để thích nghi với các thay đổi CL, điều hòa cân bằng các nội dung CL và mang lại hiệu suất CL cao cũng tức là đảm bảo cho thành công của CLKD của DN. Về thực chất, do vậy, phát triển CLKD chính là quản trị sự thay đổi của cầu thị trường của DN, quản trị sự phát triển và cân bằng của chuỗi cung ứng giá trị của DN cho khách hàng và quản trị sự sáng tạo tri thức mới để làm thích ứng phù hợp, năng động và hiệu quả CLKD đã được hoạch định với những thay đổi CL.
Ở đây cần lưu ý, phát triển CLKD không đồng nghĩa với tái cấu trúc hoặc tái thiết ngành và DN mà chỉ có tái cấu trúc & tái thiết CL nghĩa là chỉ có những việc tổ chức và thiết kế lại SBU, các phân bổ nguồn lực, các năng lực và quá trình KD cốt lõi làm cho các SBU cân bằng, thích nghi và cạnh tranh hơn với các đoạn thị trường CL thì mới thuộc nội hàm phát triển CLKD của DN. Mô hình tổng quát phát triển chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Từ những kết luận rút ra trên, có thể mô hình hóa cấu trúc phát triển CLKD của DN qua hình 1. Giá trị được chia sẻ 13 & cung ứng cho thị trường 7. & khách hàng mục tiêu 10 của SBU 12 11 3 4 6.3: Mô hình tổng quát phát triển chiến lược kinh doanh Ghi chú: 1.
Các tác nhân môi trường kinh tế - xã hội. Công chúng 2. Các tác nhân môi trường tự nhiên - kỹ 9. Phát triển cấu trúc loại hình CLKD thuật - công nghệ 3.
Các tác nhân môi trường chính trị - pháp 10. Phát triển CL đổi mới công nghệ & sản luật - văn hóa. xuất sản phẩm/ dịch vụ mới 4. Các tác nhân môi trường TM quốc tế 11.
Phát triển các năng lực, các quá trình KD cốt lõi. Các lực lượng trung gian marketing 12. Phát triển cấu trúc tổ chức, văn hóa và lãnh đạo CL 6. Các đối thủ cạnh tranh 13.
Phát triển hệ thống thông tin QTCL 7. Các nhà cung cấp 14. Phát triển CL Thương mại 26 1. Phân định nội dung phát triển chiến lược kinh doanh thương mại của các doanh nghiệp ngành may Việt Nam 1.
Khái niệm chiến lược kinh doanh thương mại & phát triển chiến lược kinh doanh thương mại Phân theo lĩnh vực KD, bất kỳ công ty KD nào đều bao hàm 3 lĩnh vực: sản xuất, TM và dịch vụ KD. Tùy theo tỷ lệ các lĩnh vực hoạt động này mà có vị thế và tính chất DN khác nhau. Với ngành may nói chung và ở Việt Nam nói riêng là lĩnh vực KD hàng hóa nên hầu hết DN đều bao hàm cả đầu tư cho sản xuất và TM. Trong thực tế KD hiện nay không tồn tại DN mang tính chất sản xuất hoặc TM thuần túy 100%.
Xu thế trong KD hàng may mặc hiện nay là tích hợp - liên kết dọc của các DN sản xuất với phân phối, lưu thông sản phẩm và hình thành 2 loại hình DN chính: DN sản xuất - thương mại (SX-TM) hàng may và DN thương mại - dịch vụ (TM-DV) hàng may. Trong cả 2 loại hình DN này hàm lượng và lĩnh vực TM đầu ra có khác nhau những vị trí và bản chất TM ở các loại hình DN này là như nhau. TS Nguyễn Bách Khoa: CLKDTM là một bộ phận hữu cơ của CLKD được phát triển cho những khía cạnh tổ chức và hoạt động TM được tiếp cận theo định hướng thị trường và dựa trên cơ sở khách hàng của DN, nghĩa là CLKDTM chủ yếu liên quan đến nội hàm phân phối, tiêu thụ và bán hàng của DN]. Như vậy CLKDTM là việc xác lập, nhấn mạnh các nội dung, khía cạnh TM trong cấu trúc CLKD, tuy nhiên do vị thế của TM luôn gắn chặt và đồng hành với những yếu tố môi trường, thị trường và khách hàng nên có nội dung ở hầu hết các khâu của quá trình quản trị, có mối quan hệ mật thiết với các nội dung khác của CLKD (vị trí số 14 trong hình 1.3) dù nó không đề cập trực tiếp nhưng có tác động ngược trở lại, điều tiết các thông số CL về sản xuất và dịch vụ khác của DN, đặc biệt trong KD hàng may mặc là loại hình KD trên thị trường người mua nghĩa là thị trường cạnh tranh về phía cầu là chủ yếu chứ không phải thị trường cạnh tranh cung (sản xuất) là chủ yếu.
27 Về thực chất CLKDTM có liên quan trực tiếp tới việc phát hiện và kích hoạt các nguồn thời cơ và lợi thế cạnh tranh từ thị trường tiêu thụ; điều chỉnh mục tiêu và phát triển lựa chọn loại hình thị trường và định vị thị trường; xác lập các quyết định chỉ tiêu bán hàng có liên quan đến CL sản lượng/chi phí sản xuất; các CL truyền thông KD và xúc tiến TM; các CL phân phối và bán hàng trên thị trường tiêu thụ của DN,.