CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỂ NGHIÊN CỨU Bước đầu quá trình nghiên cứu, tác giả thực hiện việc tổng hợp và phân tích, đánh giá một cách tổng quan các công trình nghiên cứu trong ngoài nước, nhằm tìm ra những tư liệu quý giá liên quan tới đề tài làm cơ sở lý luận cho quá trình nghiên cứu. Tổng quan về các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ở nước ngoài Có một số công trình nghiên cứu về NLCT như: Fagerberg, D. Nelson (2003), Innovation and Competitiveness, Oxford University Press. Nghiên cứu năng lực cạnh tranh ở 3 cấp độ: Cấp quốc gia (National level), cấp ngành (Industry level), cấp địa phương và doanh nghiệp (Regional and firm level) tác động của đổi mới dây chuyền công nghệ đến năng lực cạnh tranh.
Việc phân tích so sánh năng lực cạnh tranh giữa các quốc gia, giữa các ngành và giữa các tập đoàn đa quốc gia, tác giả nhận thấy rằng khả năng cạnh tranh được tạo ra từ những khác biệt cho việc duy trì tăng trưởng trong môi trường cạnh tranh toàn cầu. Theo Wernerrfelt (1984), thì nguồn lực của DN chính là yếu tố quyết định đến NLCT và hiệu quả kinh doanh của DN. Phân tích về nguồn lực của DN là tập trung vào phân tích NLCT dựa vào các yếu tố bên trong, nó chính là nguồn lực của DN. Lý thuyết này dựa vào tiền đề là các DN trong cùng một ngành thường sử dụng những chiến lược kinh doanh khác nhau.
Hơn nữa, các DN không thể dễ dàng sao chép chiến lược kinh doanh của nhau bởi vì chiến lược kinh doanh được xây dựng dựa vào chính nguồn lực của DN. Porter (1990), đã chỉ rõ lợi thế cạnh tranh không chỉ ở mỗi hoạt động, mà còn ở cả mối liên kết giữa các hoạt động với nhau, với các hoạt động của nhà cung cấp và của khách hàng. Qua đó tác giả đưa ra khái niệm “chuỗi giá trị”, chia hoạt động chung của một doanh nghiệp thành những nhóm hoạt động khác 13 nhau đại diện cho từng yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh, qua đó đánh giá được lợi thế để xây dựng các chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp. Năm 1993, Duning, J, nhận định mô hình Kim cương kiểu cũ của Porter (1990) khi sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của một ngành / doanh nghiệp đã không còn chính xác trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập của kinh tế thế giới và đề xuất bổ sung thêm nhân tố đầu tư nước ngoài vào mô hình để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT.
Theo nghiên cứu của Sanchez & Heence (1996, 2004), thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên khả năng kết hợp các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh “Năng lực cạnh tranh của 1 công ty là khả năng duy trì, triển khai phối hợp các nguồn lực và khả năng theo cách giúp công ty đạt được mục tiêu của nó”). Sanchez (2008), bản chất năng lực cạnh tranh đã chú trọng chuyển hướng năng lực thay vì nguồn lực. Theo quan điểm dựa trên năng lực của doanh nghiệp thì năng lực là chìa khoá để duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững và đạt hiệu quả cao, cũng như trở thành một tiêu chí quan trọng để đánh giá sự tồn tại và phát triển của một ngành, hay của một doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Như vậy, tiếp cận dựa trên nguồn lực, dựa vào lợi thế nguồn lực của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh và cách tiếp cận dựa trên năng lực thì dựa vào khả năng kết hợp các nguồn lực để tạo ra năng lực – đòi hỏi doanh nghiệp phải năng động, hệ thống, nhận thức và toàn diện trong quản lý chiến lược.
Nghiên cứu của Thompson et al., (2007), đã đề xuất các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh tổng thể của một doanh nghiệp dựa vào 10 yếu tố: Hình ảnh/uy tín, công nghệ, mạng lưới phân phối, khả năng phát triển và đổi mới sản phẩm, chi phí sản xuất, dịch vụ khách hàng, nguồn nhân lực, tình hình tài chính, trình độ quảng cáo, khả năng quản lý sự thay đổi. Nghiên cứu này chưa xác định được mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố này đến kết quả kinh doanh của DN mà chỉ tập trung xây dựng các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh 14 nghiệp và đánh giá nó trên phương pháp cho điểm nhằm so sánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu của Aziz et al. Trong đó tập trung vào 3 nhóm: quản trị, tổ chức và và tạo ra mạng lưới năng lực cạnh tranh của các nhà phát triển nhà tư nhân tại Malaysia.
Hai tác giả Ambastha và Momaya (2004), đã đưa ra khung lý thuyết về NLCT ở cấp độ DN. Nghiên cứu này cho thấy NLCT của DN chịu ảnh hưởng của các yếu tố: (1) Nguồn lực (nguồn nhân lực, cấu trúc, văn hóa, trình độ công nghệ, tài sản của DN); (2) Quy trình (chiến lược, quy trình quản lý, quy trình công nghệ, quy trình tiếp thị); (3) Hiệu suất (chi phí, giá cả, thị phần, phát triển sản phẩm mới). Nghiên cứu này chỉ dừng lại ở NLCT của DN nói chung mà chưa phân biệt về qui mô, địa lý, lĩnh vực hoạt động. Tác giả Ho (2005), đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các hoạt động quản trị trong DN và NLCT.
Ông đề xuất mô hình đo lường các hoạt động quản trị trong DN thông qua năm khía cạnh, (1) Cơ cấu hội đồng quản trị; (2) Cương vị quản lý; (3) Chiến lược lãnh đạo; (4) Sở hữu tập trung và các mối quan hệ vốn - thị trường; (5) Trách nhiệm xã hội có mối quan hệ với NLCT của DN. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, có sự ảnh hưởng lẫn nhau của hoạt động quản trị trong DN và NLCT, số điểm hoạt động quản trị trong DN càng cao thì đánh giá NLCT sẽ càng cao và ngược lại. Qua kết quả nghiên cứu tác giả nhận thấy, mối quan hệ 15 giữa hoạt động quản trị trong DN và NLCT sẽ cao hơn khi quản trị được đánh giá trên cơ sở toàn diện (xét 5 thông số cùng một lúc) thay vì đánh giá riêng lẻ. Trong nghiên cứu này tác giả chỉ tập trung làm rõ mối quan hệ giữa NLCT và năng lực quản trị trong DN mà không xét đến những yếu tố khác.
Vẫn còn một khoảng trống nghiên trong việc tìm hiểu mối quan hệ giữa quản trị của các DN ở các nước phát triển và khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường quốc tế. Một nghiên cứu của Chang et al.,(2007), về NLCT tại các cửa hàng tại Đài Loan bị ảnh hưởng bởi 7 yếu tố, (1) Chiến lược kinh doanh; (2) Năng lực tài chính; (3) Cơ sở vật chất, các tiện nghi; (4) Sản phẩm, hàng hóa; (5) Chất lượng dịch vụ; (6) Marketing, chiêu thị; (7) Nguồn nhân lực. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa làm rõ mối quan hệ của các yếu tố này như thế nào và đặt dưới sự tác động của môi trường. Nghiên cứu, cũng chỉ đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT cho các cửa hàng tại Đài Loan nói chung, chưa phân biệt rõ sự khác biệt của cửa hàng cung cấp sản phẩm vật chất hay sản phẩm dịch vụ.
Nghiên cứu của Onar &Polat (2010), về các nhân tố tác động tới mối quan hệ giữa quá trình xây dựng năng lực và quá trình lựa chọn chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Istabul – Thổ Nhĩ Kỳ thông qua phỏng vấn tổng giám đốc hoặc giám đốc nguồn nhân lực dựa trên bảng câu hỏi Likert 7 điểm. Nghiên cứu này đã đề xuất các yếu tố tạo khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm: 1. Khả năng quản trị, 2. Khả năng sản xuất 3.
Khả năng bán hàng, 4. Dịch vụ hậu cần Logistic, 5. Công nghệ thông tin, 6. Tài chính- kế toán, 7.
Nguồn nhân lực, 8. Dịch vụ chăm sóc khách hàng, 9. Nghiên cứu phát triển, 11.Quản trị công nghệ, 12. Quan hệ khách hàng.
Nghiên cứu này cho thấy năng lực quyết định chiến lược càng đúng thì càng tạo ra năng lực cạnh tranh càng cao, khi môi trường kinh doanh thay đổi sẽ tác động đến chiến lược kinh doanh thì các thuộc tính khác biệt của DN trong cùng ngành sẽ không thể tồn tại lâu dài vì chúng thường có thể dễ dàng bị các đối thủ cạnh tranh sao chép, hoặc trao đổi mua bán trên thị trường nguồn lực. 16 Một khi môi trường kinh doanh thay đổi tác động đến chiến lược kinh doanh thì các thuộc tính khác biệt của DN trong cùng ngành sẽ không thể tồn tại lâu dài vì chúng thường có thể dễ dàng bị các đối thủ cạnh tranh sao chép, hoặc trao đổi mua bán trên thị trường nguồn lực. Kinh tế học tổ chức và kinh tế độc quyền phân tích NLCT trong điều kiện mất cân bằng của thị trường và nền kinh tế độc quyền với giả thuyết DN có lợi thế tuyệt đối về các tài sản, nguồn lực. Vì thế, trong môi trường kinh doanh thay đổi nhanh chóng thì các điều kiện về chí phí, công nghệ, quy mô,.đã không còn là lợi thế của DN.
Mặt khác, các nghiên cứu của kinh tế học tổ chức và cạnh tranh độc quyền đều nghiên cứu đối tượng với giả thuyết là các DN trong cùng ngành có điều kiện về tài sản, nguồn lực đồng nhất. Đây là hạn chế lớn nhất trong việc giải thích lợi thế cạnh tranh của các DN hiện nay trong nền kinh tế thị trường. Một nghiên cứu của Hosein et al., (2013), đã khái quát nên bức tranh tổng thể về NLCT trong ngành công nghiệp xuất khẩu trứng cá Tằm muối là một sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Iran, nhưng hiện nay tình hình sụt giảm nghiêm trọng do ảnh hưởng của các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài như: luật của các nước nhập khẩu, chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã nhãn mác, mối quan hệ tốt với các nước nhập khẩu…từ đó tác giả xây dựng chiến lượt cải thiện và tăng cường NLCT của ngành xuất khẩu trứng cá Tằm muối nhằm giành lại thị trường Sauka (2014), đã đưa ra 7 nhân tố ảnh hưởng đến NLCT cấp công ty, bao gồm: (1) Năng lực tiếp cận các nguồn lực; (2) Năng lực làm việc của nhân viên; (3) Nguồn lực tài chính; (4) Chiến lược kinh doanh; (5) Tác động của môi trường; (6) Năng lực kinh doanh so với đối thủ; (7) Sử dụng các mạng lưới thông tin liên lạc. Trong nghiên cứu này là sử dụng phương pháp thống kê và đưa ra nhận xét dựa trên giá trị trung bình.