CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI CỦA NHTM 1. Lý luận liên quan đến cảm nhận của khách hàng về huy động vốn trong Ngân hàng thương mại Hoạt động huy động vốn của NHTM Ngân hàng thương mại là tổ chức thành lập để hoạt động kinh doanh tiền tệ, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi với nhiều hình thức khác nhau từ các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ liên quan đến lĩnh vực tài chính ngân hàng cho các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế.1Khái niệm cảm nhận của khách hàng Từ những năm cuối thế kỷ 20 khái niệm “giá trị cảm nhận” đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm đến, nó nổi lên như một yếu tố đóng vai trò quan trọng đối với sự sống còn của tổ chức, doanh nghiệp. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để định nghĩa. Giá trị cảm nhận của khách hàng là giá trị được cảm nhận tính theo đơn vị tiền tệ của lợi ích về mặt kỹ thuật, kinh tế, dịch vụ và xã hội mà khách hàng có thể nhận được so với giá mà họ trả cho một sản phẩm, đặt trong việc xem xét giá cả và chào hàng của các nhà cung cấp sẵn có.Nhận thức của người mua về giá trị là miêu tả sự cân đối giữa chất lượng sản phẩm hoặc lợi ích mà họ cảm nhận được từ sản phẩm và chi phí mà họ phải trả cho sản phẩm đó 1.2Khái niệm huy động vốn Huy động vốn là một trong các nghiệp vụ tạo nên nguồn vốn của NHTM, thông qua ngân hàng nhận ký thác và quản lý các khoản tiền từ khách hàng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi đáp ứng nhu cầu vốn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Huy động vốn – hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn nên đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến quy mô và hiệu quả SVTH: Đặng Thu Thuỷ 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Hoàng kinh doanh của ngân hàng. NHTM mua quyền sử dụng các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của khách hàng trong một thời gian nhất định với trách nhiệm hoàn trả đầy đủ với chi phí phải trả cho khách hàng dưới hình thức lãi tiền gửi.3Khái niệm huy động vốn tiền gửi Huy động vốn tiền gửi là một trong các nghiệp vụ tạo nên nguồn vốn của NHTM, thông qua hoạt động nhận ký thác và quản lý các khoản tiền gửi từ khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp theo nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh của ngân hàng Tiền gửi cá nhân: Khách hàng cá nhân chiếm phần lớn đa số trong đối tượng hoạt động của ngân hàng. Chính vì vậy, các hoạt động dịch vụ của ngân hàng với đối tượng khách hàng này cũng rất đa dạng, đặc biệt đối với hoạt động huy động vốn.
Với mục đích gửi tiền chủ yếu là tiết kiệm, bảo quản, đem lại khả năng sinh lời cho mình thì khách hàng cá nhân đã đem lại một lượng vốn huy động đáng kể cho ngân hàng với số tiền nhàn rỗi của mình. Đồng thời lượng vốn huy động được thì rất ổn định góp phần cho ngân hàng có thể dễ dàng sử dụng lượng vốn này để thực hiện đầu tư một cách hiệu quả nhất. Tiền gửi của doanh nghiệp: Không chỉ khách hàng cá nhân mới đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng mà các doanh nghiệp cũng như các tổ chức kinh tế khác cũng góp phần tạo nên sự đa dạng trong hoạt động của ngân hàng, lượng vốn huy động từ khách hàng là doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác cũng góp phần tạo nên sự đa dạng trong hoạt động của ngân hàng. Trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng, lượng vốn huy động từ khách hàng là doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác cũng chiếm phần lớn.
Tuy nhiên mục đích gửi tiền của đối tượng khách hàng này khác so với khách hàng cá nhân nên ngân hàng chỉ sử dụng được một phần nhỏ trong lượng vốn huy động được đó là số dư trên tài khoản của các doanh nghiệp cũng như các tổ chức kinh tế. Bởi vì mục đích gửi tiền của đối tượng khách hàng này là dùng để thanh toán cũng như tiến hành các giao dịch khác nên lượng vốn huy động sẽ không có thời gian cố định gây khó khăn cho ngân hàng trong việc đem vốn đi đầu tư sinh lời. Tuy nhiên không phải lúc nào các doanh nghiệp gửi tiền với mục đích thanh toán, bởi với số tiền nhàn rỗi sẽ được hưởng lãi nếu doanh nghiệp gửi tiền có kỳ SVTH: Đặng Thu Thuỷ 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Hoàng hạn rất ổn định góp phần làm cho ngân hàng có thể dễ dàng sử dụng lượng vốn này để thực hiện các hoạt động đầu tư của mình một cách hiệu quả nhất.4Đặc điểm huy động vốn Chủ thể tham gia trong hoạt động huy động vốn: NHTM với vị thế là người huy động vốn và khách hàng, bao gồm: cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp … với vị thế là người cung cấp vốn huy động cho ngân hàng Hình thức huy động vốn của NHTM đa dạng: nhận tiền gửi không kỳ hạn, nhận tiền gửi có kỳ hạn và phát hành giấy tờ có giá (kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi).
Khi khách hàng có nhu cầu rút tiền thì ngân hàng sẽ hoàn trả cả gốc và lãi tiền gửi cho khách hàng. Huy động vốn là nghiệp vụ có tính hoàn trả Nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM đóng vai trò quan trọng, nhưng cũng không kém phần rủi ro cho NHTM Nghiệp vụ huy động vốn chỉ có thể thực hiện khi có sự tin tưởng, tín nhiệm của khách hàng dành cho ngân hàng. Vì thế ngân hàng phải tuân thủ nghiêm ngặt vấn đề bảo mật thông tin khách hàng, quy trình huy động vốn và sử dụng vốn huy động cần có sự kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo tính an toàn cho tài sản của khách hàng.5Nguyên tắc huy động vốn Hoàn trả: Ngân hàng phải có trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng khi có yêu cầu hoặc khi có đáo hận tiền gửi. Như vậy sẽ tạo được lòng tin nơi khách hàng để họ yên tâm gửi tiền vào ngân hàng đảm bảo an toàn.
Trả lãi: NHTM không chỉ hoàn trả vốn gốc cho khách hàng mà còn phải phải trả lãi cho khách hàng, cho dù ngân hàng kinh doanh lãi hoặc lỗ. Nhằm đảm bảo cho khách hàng được bảo tồn vốn mà còn có thu nhập thông qua hình thức lãi. Bảo mật: NHTM phải giữ bí mật tài khoản cho khách hàng, tình hình số dư và biến động số dư tài khoản của khách hàng trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan chức năng.6Vai trò huy động vốn Đối với nền kinh tế: NHTM là kênh cung ứng vốn quan trọng hàng đầu của nền kinh tế. Thông qua huy động vốn của ngân hàng, các khoản tiền nhàn rỗi của các đối tượng trong nền kinh SVTH: Đặng Thu Thuỷ 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Trần Hoàng tế tập trung thành một khối lượng vốn lớn, sử dụng vốn cho vay đầu tư sinh lời đáp ứng cho các yêu cầu của nền kinh tế - xã hội. NHTM quản lý việc thu chi tiền cho khách hàng góp phần kiểm soát lạm phát và các hoạt động của nền kinh tế, cũng như những diễn biến xu hướng biến động trong nền kinh tế để Nhà nước kịp thời đưa ra giải pháp hợp lý. Thông qua huy động vốn, NHTM phát hàng chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu góp phần tạo nên hàng hóa trên thị trường tài chính. Đối với Ngân hàng thương mại Nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng đáng kể trong tài sản nợ của NHTM, tạo nên nguồn vốn quan trọng của NHTM.
Thông qua nghiệp vụ huy động vốn, NHTM hình thành nguồn vốn đáp ứng nhu cầu kinh doanh, thực hiện các nghiệp vụ: cho vay, tài trợ, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán, ủy thác … tạo ra nguồn lợi nhuận cho NHTM, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của NHTM. Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu gửi vào ngân hàng, mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng. Quy mô huy động vốn càng lớn thì khả năng cho vay càng cao. Huy động vốn là cơ sở để ngân hàng thu hút khách hàng đến giao dịch góp phần nâng cao uy tín và thương hiệu của ngân hàng.
Đối với khách hàng Nghiệp vụ huy động vốn giúp cho khách hàng thuận lợi trong việc tích lũy để dành các khoản thu nhập nhàn rỗi chưa sử dụng cho mục tiêu hay nhu cầu tài chính đã dự định trong tương lai. Thông qua nghiệp vụ huy động vốn, khách hàng nhận đươc khoản lãi trên khoản tiền gửi của khách hàng và khoản tiền gửi này được bảo đảm thông qua hợp đồng kinh tế hay thỏa ước của ngân hàng với khách hàng. Do đó, đây là hình thức đầu tư an toàn cho khách hàng. Năng lực cạnh tranh 1.1Khái niệm cạnh tranh Có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh của NHTM, có thể phát biểu như sau: SVTH: Đặng Thu Thuỷ 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Trần Hoàng Theo Michael Porter (1980) thì “cạnh tranh trong kinh doanh là giành lấy thị phần, bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận và khoản lợi nhuận đó phải cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đạt được. Điều đó có nghĩa là, kết quả của quá trình cạnh tranh đảm bảo được lợi nhuận bình quân trong ngành theo chiều hướng cải thiện tốt nhất, đồng thời giá cả của sản phẩm là thấp nhất.” Allen và Gale (2000) định nghĩa cạnh tranh là sự ganh đua của người bán nhằm đạt kết quả tốt hơn so với những người bán khác (về doanh số, lợi nhuận và thị phần) bằng cách đưa ra sự kết hợp tốt nhất về giá, chất lượng và dịch vụ. Từ điển Bách khoa Việt Nam (1996) định nghĩa: “cạnh tranh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”.