Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chỉ số NLCT Chương 2: Phân tích đánh giá NLCT của Việt Nam so với các nước ở khu vực ASEAN giai đoạn 2005-2015. Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao chỉ số NLCT của Việt Nam giai đoạn 2015-2020 SVTH: Ngô Thị Kim Chi – Lớp: K46B KHĐT 3 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Nữ Minh Phương PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.1 Một số khái niệm cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng 1.1 Khái niệm cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường, các hoạt động kinh tế chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế: quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh. Cạnh tranh trên thị trường rất đa dạng và phức tạp giữa các chủ thể có lợi ích đối lập nhau, như cạnh tranh giữa những người mua, giữa những người bán, giữa người mua với người bán, giữa các nhà sản xuất, giữa các DN nội địa và DN nước ngoài…Cạnh tranh phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa.
Vậy thế nào là cạnh tranh ? Trong điều kiện nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, K.Mark đã đưa ra khái niệm cạnh tranh như sau: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Như vậy, khi nghiên cứu cạnh tranh trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, K.Mark đã coi cạnh tranh là cuộc giành giật các lợi thế để thu được lợi nhuận siêu ngạch.Samuelson khái quát trong cuốn Kinh tế học thì: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các DN cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường” Tuy nhiên, cũng trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, cuốn sách “Từ điển kinh doanh” lại đưa ra khái niệm cạnh tranh như sau: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình” để đề cập đến sự cạnh tranh ở thị trường các yếu tố đầu vào của các DN. Với các nghĩa trên, phạm trù cạnh tranh, được hiểu là quan hệ kinh tế trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh khách hàng cũng như các SVTH: Ngô Thị Kim Chi – Lớp: K46B KHĐT 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Nữ Minh Phương thị trường, điều kiện sản xuất có lợi nhất.
Mục đích cuối cùng của các chủ thể trong quá trình cạnh tranh là nhằm tối đa hóa lợi ích. Đối với người sản xuất kinh doanh đó là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh là động lực, là một trong những nguyên tắc cơ bản, tồn tại khách quan và không thể thiếu được của sản xuất hàng hóa.
Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh. Cạnh tranh bao gồm việc cạnh tranh chiếm các nguồn nguyên liệu, giành các nguồn lực sản xuất, cạnh tranh về KH - CN, cạnh tranh để chiếm thị trường tiêu thụ, giành nơi đầu tư, các hợp đồng, các đơn đặt hàng, cạnh tranh bằng giá cả, phi giá cả, bằng các thủ đoạn kinh tế và phi kinh tế,… Cạnh tranh có nhiều loại: cạnh tranh giữa người bán và người mua, cạnh tranh trong nội bộ ngành và giữa các ngành, cạnh tranh trong giới hạn QG và quốc tế .2 Các hình thái cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường 1.1 Thị trường cạnh tranh Hình thái này được xem xét dưới góc độ hành vi của thị trường, gắn liền với phương thức hình thành và vận động giá cả trên thị trường. Có các hình thái cạnh tranh như sau: 1.1 Hình thái thị trường cạnh tranh hoàn hảo Khái niệm: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là cạnh tranh trong một mô hình kinh tế được mô tả là một mẫu kinh tế thị trường lý tưởng, ở đó không có người sản xuất hay người tiêu dùng nào có quyền hay khả năng khống chế được thị trường, làm ảnh hưởng đến giá cả. Tất cả các đơn vị hàng hóa trên thị trường được coi là giống nhau, ít có sự khác biệt về mẫu mã, hình thức, chất lượng.
Tất cả người mua và người bán đều có hiểu biết đầy đủ về các thông tin liên quan đến việc trao đổi, vì vậy, việc tham gia và rút khỏi thị trường rất dễ dàng, họ không có khả năng nâng giá. Do đó, các DN tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường này chủ yếu tìm biện pháp giảm chi phí tới mức thấp nhất. SVTH: Ngô Thị Kim Chi – Lớp: K46B KHĐT 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Nữ Minh Phương Tác dụng: + Thúc đẩy các DN cải tiến công nghệ, thay đổi sản phẩm cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng.
+ Làm cho người tiêu dùng dễ dàng lựa chọn những sản phẩm vừa ý với mức giá thấp nhất. + Tài nguyên được phân phối theo hướng có lợi nhất, làm cho DN phải chuyển sang kinh doanh mặt hàng phù hợp với yêu cầu xã hội. Đây là hình thái cạnh tranh hầu như không tồn tại hoặc rất khó thấy trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan gây ra. Tuy nhiên, tiến tới một thị trường cạnh tranh hoàn hảo vẫn là mục tiêu hướng tới của mỗi QG trong xu thế hội nhập thương mại quốc tế.2 Hình thái thị trường cạnh tranh không hoàn hảo Đây là một thị trường mà phần lớn sức mạnh thị trường thuộc về một số DN sản xuất kinh doanh lớn.
Các DN trên thị trường kinh doanh các sản phẩm hoàng hóa – dịch vụ cùng chủng loại nhưng khác nhau về nhãn hiệu. Chính những nhãn hiệu này lại mang những hình ảnh, uy tín khác nhau do người tiêu dùng nghĩ ra, có thể đúng hoặc không đúng. Do đó, một số người tiêu dùng sẽ trả giá cao hơn cho sản phẩm mà mình thích. Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là một thị trường phổ biến trong điều kiện nền kinh tế hiện nay.
Có hai hình thái thị trường cạnh tranh không hoàn hảo sau: Độc quyền tập đoàn Độc quyền tập đoàn là thị trường chỉ có một số DN sản xuất toàn bộ hay hầu hết tổng sản lượng. Trong số đó, một số hoặc tất cả các DN đều thu được lợi nhuận đáng kể trong dài hạn, vì có các rào cản gia nhập làm cho các DN mới không thể gia nhập vào thị trường được. Tuy nhiên, ở đây các DN trong thị trường bị phụ thuộc lẫn nhau trong việc định giá cũng như sản lượng bán ra. Bởi lẽ, một khi DN trong nhóm độc quyền giảm giá hàng bán thì lợi thế đối với họ không được lâu, các DN khác cũng sẽ nhanh chóng giảm giá, như vậy, lợi ích của họ sẽ nhanh chóng giảm sút.
Ngược lại, khi DN tăng giá chưa chắc các DN khác sẽ tăng giá theo, như vậy, DN sẽ làm mất khách hàng. SVTH: Ngô Thị Kim Chi – Lớp: K46B KHĐT 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Nữ Minh Phương Cạnh tranh độc quyền Đặc điểm nổi bật của thị trường độc quyền là số lượng các DN tham gia thị trường tương đối lớn, mỗi DN sẽ có ảnh hưởng lớn đến các quyết định sản xuất kinh doanh riêng của DN mình. Trong thị trường cạnh tranh độc quyền, sản phẩm của các DN không đồng nhất.
Người tiêu dùng phân biệt được các sản phẩm của các DN thông qua nhãn hiệu, bao bì và dịch vụ kèm theo. Trên thị trường này, DN có quyền quyết định giá bán hàng hóa nhưng vẫn không phải hoàn toàn theo ý mình, các điều kiện về mua bán hàng hóa cũng khác nhau, các DN có thể có hình ảnh, uy tín khác nhau trong tâm trí mỗi khách hàng.3 Hình thái thị trường độc quyền Đây là hình thái thị trường mà ở đó chỉ có một người bán nhưng nhiều người mua hoặc là chỉ có một người mua. Điều kiện gia nhập cũng như rút lui khỏi thị trường này vô cùng khó khăn do vốn đầu tư sản xuất kinh doanh thường rất lớn hoặc do sự độc quyền về kỹ thuật công nghệ. Chính vì vậy, đặc điểm nổi bật của thị trường này là không có sự cạnh tranh về giá cả mà giá cả phụ thuộc vào quyền kiểm soát của người mua độc quyền hoặc người bán độc quyền.
Với hình thái này, người tiêu dùng cuối cùng gặp nhiều bất lợi nhất, DN độc quyền có thể tạo ra sự khan hiếm hàng hóa hoặc bán hàng hóa với giá cao. Để bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, hiện nay đã có nhiều QG đề ra luật chống độc quyền. Tuy nhiên, độc quyền cũng có mặt tích cực, nó đem lại lợi ích cho xã hội nhờ quá trình đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học – kỹ thuật. DN độc quyền thường có trình độ tập trung hóa sản xuất cao, mở rộng được quy mô sản xuất nên giảm được chi phí sản xuất tính trên một đơn vị sản phẩm.2 Cạnh tranh của DN.1 Cạnh tranh trong việc lựa chọn yếu tố đầu vào Thực chất, đây là việc các DN tìm kiếm cho mình một nguồn cung ứng tốt nhất, đầy đủ, thường xuyên nhất và chi phí cho các yếu tố đầu vào nhỏ nhất.
Trong cơ chế thị trường, nhiều nhà cung ứng và nhiều DN cùng có nhu cầu về một số yếu tố đầu vào nhất định sẽ song song tồn tại cùng một lúc. Mỗi nhà cung ứng có một mức giá cho các yếu tố đầu vào khác nhau, do đó, các DN sẽ chọn cho mình một nhà cung ứng có SVTH: Ngô Thị Kim Chi – Lớp: K46B KHĐT 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Nữ Minh Phương mức giá thấp cũng nhưng có dịch vụ cung ứng tốt. Tuy nhiên, để tránh tình trạng có nhà cung ứng độc quyền, các DN nên chọn cho mình một số nhà cung ứng trong đó có một nhà cung ứng chính.
Điều này vô hình chung sẽ dẫn tới một số nhà cung ứng có giá cao sẽ bị loại bỏ. Ngược lại, các nhà cung ứng lại muốn lựa chọn khách mua các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất với mức cao.