CHƯƠNG 1 : KHẢ NÀNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH N G HIỆM QUỐC TÊ 1.1 Cạnh tran h của (loanh nghiệp trong nền kinh té thị trường Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, trong nền kinh tế này sản xuất cái gì ? sản xuất như thế nào ? sản xuất cho ai ? do thị trường quyết định. Kiểu tổ chức kinh tế nay lổn tại ở các nước tư bản từ cuối thế kỷ 15 và nay là hình thức kinh tế chung của hầu hết các nước trên thế giới. Như vậy, nói tới kinh tế thị trường, về thực chất là nói tới cư chế thị trường. Cơ chế thị trường là một cơ chế mà trong đó tổng thể các nhân tố, các quan hệ cơ bản của nền kinh tế vận động dưới sự chi phối của quy luật thị trường.
Nhìn vào bất kỳ một nền kinh tế nào, dù là kinh tế thị trường phát triển như Mỹ, Tày Âu, Nhật Ban hay kinh tế thị trường sơ khai như ở Việt Nam hiện nay, chúnơ ta đều thấy có những nhân tố cơ bản là cung cáu và giá cả. Kinh tế thị trường vận động dưới sự chi phối của các quy luật khách quan, mà trước tiên phải kế đến là quy luật cung cầu. Sự vận động của quy luật cung cầu đã chi phối sự hoạt dộng của những thành viên tham gia thị trường. Cạnh tranh là một nguyên tắc cơ bản, tồn tại khách quan và trở thành cơ chế nổi bật của kinh tế thị trường - cơ chế cạnh tranh.1 Khái niệm cạnh tranh Kinh tế thị trường dược xem là một trong những thành tựu vĩ đại nhất trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại.
Nó luôn hùm chứa trong mình nhữnẹ thách thức đối với sự nhạy bén và sáng tạo của con người trong môi trường cạnh tranh. Dưới sự tác độns của quy luật cung cẩu, quy luật giá trị, các chủ thể kinh doanh đã cạnh tranh với nhau để cùng với bên kia của thị trường (người tiêu 7 dùng) xác định giá cả của hùng hoá. Dưới tác động cùa cạnh tranh, thị trường tự thân nó luôn phải giải quyết sự mâu thuần không ngừng vận độn2 giữa sở thích của người tiêu dùng và hạn chế kỹ thuật (giới hạn klìá năng sán xuàĩ). Do vậy, cạnh tranh là một hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trườns.
Nó chỉ xuất hiện trong điều kiện của kinh tế thị trường, nơi mà cung cầu là cốt vật chất, giá cả là diện mạo và cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường. Ngày nay, hấu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh không những là môi trườns và động lực của sự phút triển nói chung, thúc đẩy sán xuất, kinh doanh phát triển và tăng năn2 suất lao động, hiệu quả của các doanh nghiệp nói riêng mà còn lù nhân tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội. Thực tế cho thấy cạnh tranh là một hiện tượns xã hội rất phức tạp và đòi hỏi được làm sáng tỏ ở nhiều tầng tiếp cận khác nhau về cạnh tranh. Theo Mác, “ Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những diều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”[ 24, tr.
Thông qua cạnh tranh mà kích thích cải tiến kỹ thuật, lợp lv hoá sản xuất, phát minh ra kỹ thuật mới. Trong từ điển thuật ngữ kinh tế học (Nxb Từ điển bách khoa - Hà Nội, 2001) thì cạnh tranh “ là sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, các tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được”[ 26, tr. Trong từ điển kinh doanh (xuất bản tai Anh năm 1992): “Canh tranh ià sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”[ 26, tr.
Uỷ ban cạnh tranh công nshiệp của tổng thống Mỹ cho rằng : “Cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ờ đó, dưới các điều kiện tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàn£ hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị 8 trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng thu nhập thực tế của nhân dân nước đó” [ l l. Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu nhấn mạnh cạnh tranh là : “Khả năng nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng thay đổi của GDP trên đầu người theo thời gian” [ 11, tr. 5], Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) có định nghĩa chung về cạnh tranh cho cả doanh nghiệp, ngành, quốc gia : “Khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” [ l l. Như vậy, khái niệm cạnh tranh được hiểu từ rất nhiều góc độ, song dưới góc độ kinh tế chính trị, ta có thể hiểu một cách chung nhất như sau : "Cạnh tranh ỉà quan hệ kinh t ế mà ỏ đó các chủ thể kinh tể ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẩn thủ đoạn đ ể đạt mục tiêu kinh tế của mình thông thường là chiếm lĩnh thị trưởng, qiành lấy khách hàng cũng như các điểu kiện sán xuất, thị trường có lợi nhất.
Mục đích cuối cùng của các chủ th ể kình tế trotìỸỊ quá trình cạnh tranh là tối đa ìioá lợi ích. Đấi với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với ììiịKỜi tiêu dùng là lợi ích tiêu dừng và sự tiện lợ i” [ 4, tr.2 Phân loại cạnh tranh * Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường, có ba loại cạnh tranh : - Một là: Cạnh tranh ỵiữa những người bán và những người mua : là cuộc cạnh Iranh diễn ra theo luật “mua rẻ, bán đắt”. Những người bán muốn bán sản phẩm của minh với giá cao nhất, nsược lại những người mua lại có tham vọng mua được hàng hoá với aiá rẻ. Hai lực lượng này hình thành nên hai phía cung cầu trên thị trườns.
Giá cả cuối cùna là giá thống nhất giữa người mua và người bán sau một quá trình mặc cá, mà theo đó hoạt động mua bán dược thực hiện. 9 - Hai là : Cạnh tranli giữa những người mua với nhau : là cuộc cạnh tranh dựa trên sự tranh đua trên cơ sở của luật cung cầu. Khi lượng cung một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó mà quá thấp so với nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh giữa những người mua sẽ trở nên quyết liệt. Lúc đó, giá cả hàng hoá, dịch vụ sẽ tăng vọt, nhưng do hàng hoá khan hiếm nên người mua vẫn sẵn sàng chấp nhận giá cao để mua được thứ mà mình cần.
Kết quả của cuộc cạnh tranh này là giả cả của hàng hoá đem bán tăng lên. - Ba là : Cạnh tranh giữa những người bán với nhan : Đây là cuộc cạnh tranh mang tính gay go khốc liệt nhất và có ý nghĩa sống còn đối với người bán. Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau, thủ tiêu nhau để giành khách hàng và thị trường, làm cho giá cả của hàng hoá không ngừng giảm xuống và người mua sẽ được lợi. * Căn cứ vào mức độ, tính chất cạnh tranh trên thị trường, thì có : - Một là : Cạnh tranli hoàn hảo là tình trạng cạnh tranh trong đó giá cá của một hàng hoá là không đổi trôna toàn bộ các nơi của thị trường, bởi vì có nhiều người mua và nhiều người bán, họ có sự thông tin đầy đủ về các điều kiện của thị trường.
Vì vậy, một hãng cạnh tranh trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo không có iý do gì để bán sản phẩm với mức giá rẻ hơn mức giá trên thị trường, hơn nữa nó cũng không thể tăng giá của mình lên cao hơn mức giá thị trường vì nếu thế, doanh nghiệp sẽ không bán được gì và người tiêu dùng sẽ đi mua hàng hoá với mức giá rẻ hơn từ phía các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ còn cách thích ứng với giá trên thị trường và tìm mọi biện pháp giảm chi phí, sản xuất ra một lượng sản phẩm ở mức giới hạn mà ở đó chi phí bằng doanh thu cận biên để tối đa hoá lợi nhuận của mình. Đối với thị trường cạnh tranh hoàn hảo sỗ không có những hiện tượng cung cáu giả tạo, không bị hạn chế bởi các biện pháp hành chính của doanh nghiệp. Vì vậy trong thị trường này, siá thị trường sẽ dẩn tới chi phí sản xuất [ 12, tr.
145-147], 10 - Hai là : Cạnh tranh không hoàn hảo : là hình thức cạnh tranh trên thị trường mà ở đó các cá nhân bán hàng hoặc các nhà sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực để chi phối giá cả sản phẩm của mình trên thị trường tuỳ theo các mức độ cạnh tranh khác nhau. Cạnh tranh không hoàn hảo bao gồm: + Cạnh tranh có tính độc quyền : Mỗi hãng đứng trước đường cầu dốc xuống. Nó mô tả một ngành trong đó mỗi hãng có thể ảnh hưởng đến phần thị trường của mình ở một mức nào đó bằng cách thay đổi giá cả của mình so với đối thủ cạnh tranh khác. Đường cẩu đối với nó không phải nằm ngang vì sản phẩm của các hãng khác nhau chỉ có thể thay thế cho nhau một cách có giới hạn.
Những ngành cạnh tranh có tính độc quyền có sự khác biệt ở cùng một loại sản phẩm. Mỗi loại sản phẩm có thể có nhiều loại nhãn hiệu khác nhau, mặc dù sự khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể ; mỗi loại nhãn hiệu lại có uy tín, sự độc đáo khác nhau đối với người mua do nhiều lý do khác nhau như : khách hàng quen, gây được lòng tin từ Irước, sản phẩm có tên tuổi lâu đời trên thị trường. Trong thị trường này, người bán lôi kéo khách hàng về phía mình bằng nhiều cách như : quảng cáo, khuyên mại, phương thức thanh toán, phương thức bán h à n g. + Độc quyền nhóm : là cạnh tranh trên thị trường mà ở đó có một số người bán một số sản phẩm thuần nhất hoặc nhiều người bán một loại sản phẩm không thuần nhất.