chương 1 sẽ tạo nên một tiền đề vững chắc, hỗ trợ bài báo cáo đi sâu vào phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012 trong chương 2, để từ đó có thể đề xuất một hệ thống các giải pháp tài chính nhằm cải thiện tình hình trên trong thời gian tới. NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 2. Tổng quan về Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam 2. Lịch sử hình thành và phát triển Với một bề dày lịch sử hơn 50 năm hoạt động và phát triển, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đã trải qua rất nhiều biến cố.
Trong số đó, một vài biến cố mang tính chất then chốt có tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh của ngân hàng này cho đến ngày nay. Được thành lập theo Quyết định số 115/CP do Hội đồng Chính phủ ban hành vào ngày 30 tháng 10 năm 1962 và đi vào hoạt động vào ngày 01 tháng 04 năm 1963, Ngân hàng Ngoại thương đã có lợi thế cạnh tranh rất lớn trên thị trường tài chính khi tiền thân của ngân hàng này chính là Cục quản lý Ngoại hối trực thuộc NHNN. Tận dụng thế mạnh trong lĩnh vực ngoại hối, mục tiêu chính của ngân hàng kể từ khi mới thành lập là trở thành một ngân hàng đối ngoại chủ lực, phục vụ hiệu quả cho sự phát triển kinh tế trong nước, đồng thời tạo những ảnh hưởng quan trọng đối với cộng đồng tài chính khu vực và toàn cầu. Vào ngày 23 tháng 05 năm 2008, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tiếp tục có một thay đổi quan trọng khi chính thức chuyển đổi sang mô hình Ngân hàng Thương mại cổ phần theo giấy phép số 138/GP-NHH do thống đốc NHNN quy định.
Và thay đổi này có thể được xem là thay đổi quan trọng nhất kể từ khi ngân hàng này thành lập. Bởi vì kết hợp với ưu thế về uy tín trước đó, việc cổ phần hóa đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam khi đưa ngân hàng này trở thành một trong những ngân hàng có uy tín và quy mô lớn nhất ngành cho tới thời điểm hiện tại. Từ những thành công hôm nay, ta có thể khẳng định một lần nữa, năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chịu tác động rất lớn từ quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng này4. 4 Xem Phụ lục 4, mục 1.1: Các mốc lịch sử và thành tựu của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 10 GVHD: TS.
NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN 2. Cơ cấu tổ chức và các sản phẩm dịch vụ tài chính của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Với một hệ thống đa dạng các sản phẩm và dịch vụ tài chính từ tín dụng cho đến thanh toán, đòi hỏi Vietcombank phải có một quy mô phân phối tương đồng nhằm có thể cung cấp các sản phẩm này đến mọi đối tượng khách hàng của mình, đó là lý do hiện tại ngân hàng đang sở hữu 1 Hội sở chính tại Hà Nội, 1 Sở giao dịch, 2 công ty con, gần 400 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc. Và để có thể điều hành và quản lý cả một hệ thống các chi nhánh, phòng ban, công ty trực thuộc hoạt động một cách hiệu quả không thể không kể đến cơ cấu tổ chức hiện đại và chặt chẽ của Vietcombank 5. Vị thế của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam so với các ngân hàng khác Trong suốt hơn 50 năm hoạt động và phát triển, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chẳng những luôn giữ vai trò chủ lực trong hệ thống tài chính – ngân hàng Việt Nam mà còn luôn phấn đấu để trở thành một trong những ngân hàng thuộc tốp đầu ngành về các tiêu chí quan trọng, đặc biệt là về các chỉ số tài chính.1: Các tiêu chí tài chính cơ bản của một số NHTM Việt Nam 2012 Đơn vị: tỷ đồng Tỷ số VCB CTG ACB EIB STB Tài sản 414.915 Vốn điều lệ 23.740 Vốn huy động 345.253 Cho vay khách hàng 235.366 Nguồn: Báo cáo tài chính các NHTM năm 2012 Dẫn chứng một số chỉ tiêu tài chính cơ bản trong năm 2012 của một số NHTM Việt Nam, ta thấy, trong nhóm 5 ngân hàng được dùng để đánh giá, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đứng thứ 2 về tất cả các chỉ tiêu chỉ sau Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.
Tuy nhiên, nếu xét trong giai đoạn 5 năm 5 Xem Phụ lục 4, mục 1.2: Cơ cấu tổ chức và các sản phẩm, dịch vụ tài chính của Vietcombank 11 GVHD: TS. NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN từ 2008 đến 2012 thì tốc độ tăng trưởng của 5 chỉ tiêu trên của Vietcombank đang dần cao hơn khi so sánh với Viettinbank. Điều này cho thấy, nếu Vietcombank vẫn duy trì mức tăng trưởng tín dụng an toàn, đồng thời nâng cao chất lượng hoạt động và giữ vững thị phần thì việc ngân hàng này trở thành ngân hàng dẫn đầu về các chỉ tiêu tài chính cơ bản trong nhóm 5 ngân hàng đang xem xét trong thời gian tới là điều hoàn toàn khả thi. Đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012 2.
Tình hình hoạt động của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Giai đoạn 2008 – 2012 được đánh giá là giai đoạn đầy tổn thất của ngành ngân hàng thế giới nói chung và ngành ngân hàng Việt Nam nói riêng. Trong khi vừa phải khắc phục hậu quả do cuộc khủng hoảng tài chính 2008 để lại, nền kinh tế lại phải đối mặt với cuộc khủng hoảng nợ công với xuất phát điểm từ các nước Tây Âu. Việc mà sự khôi phục tăng trưởng gặp phải một rào cản lớn như vậy đã gây ra nhất nhiều khó khăn cho các ngân hàng Việt Nam trong các hoạt động như huy động vốn, quản trị rủi ro, ổn định tỷ suất sinh lời… Thế nhưng, trong bối cảnh khó khăn chung như vậy, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam vẫn duy trì được mức tăng trưởng hằng năm cả về quy mô hoạt động lẫn kết quả hoạt động kinh doanh.2: Một số chỉ tiêu tài chính tại Vietcombank giai đoạn 2008 – 2012 Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011 2012 Tài sản 222.670 Vốn điều lệ 12.337 Tiền gửi khách hàng 157.515 Cho vay khách hàng 108.761 Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 2008 – 2012 12 GVHD: TS. NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN 2.
Về quy mô hoạt động Để có thể thấy được quy mô hoạt động của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam ta sẽ xem xét sự biến động trong quy mô tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của ngân hàng này trong giai đoạn 2008 – 2012.1: Quy mô nguồn vốn chủ sở hữu và vốn điều lệ Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012 Đơn vị: tỷ đồng 450,000 414,670 60% 400,000 366,722 50% 350,000 307,621 47.11% 40% Tài sản 250,000 222,279 Vốn CSH 24.40% % tăng trưởng tài sản 150,000 13.21% % tăng trưởng vốn CSH 10% 50,000 13,946 16,710 20,737 28,639 42,337 - 0% 2008 2009 2010 2011 2012 Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 2008 – 2012 Theo quan sát tổng quát từ hình 2.1, quy mô tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam có sự tăng trưởng qua các năm nhưng không đồng đều. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng của 2 chỉ tiêu này trong giai đoạn xem xét lại đang có xu hướng trái ngược nhau. Trong khi tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu của Vietcombank ngày càng tăng nhanh qua các năm và đột biến vào cuối giai đoạn xem xét với năm 2011 tăng 38,11% so với 2010; đạt 28.639 tỷ đồng và năm 2012 tăng đến 47,83% so với 2011; đạt giá trị cao nhất với 42.337 tỷ đồng thì tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản tại ngân hàng này lại đang chững lại. Cụ thể, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản sau khi tăng nhanh vào đầu giai đoạn xem xét và đạt cao nhất tại năm 2010 với 20,40% thì bắt đầu giảm cho đến cuối năm 2012 và chỉ đạt 13,07%; thấp nhất trong cả thời kì.
Tuy nhiên, sự chững lại trong tốc độ gia tăng tổng tài sản của Vietcombank trong giai đoạn 2011 – 2012 là không đáng lo ngại do đây là xu hướng chung của ngành ngân hàng trong thời kỳ này do ngành ngân hàng nước ta phải đối 13 GVHD: TS. NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN mặt với không ít khó khăn, thử thách như nợ xấu tăng cao, thanh khoản căng thẳng tại một số ngân hàng, lãi suất, tỷ giá và giá vàng biến động phức tạp. Ngoài ra, tuy có tăng chậm lại trong giai đoạn 2011 – 2012 nhưng khi so với các ngân hàng cùng hệ thống; tổng tài sản của Vietcombank vẫn đang ở mức rất cao với 414.670 tỷ đồng và hiện đang đứng thứ 4 trong ngành ngân hàng chỉ sau Agribank; Vietinbank và BIDV. Từ đây ta thấy, năng lực cạnh tranh về quy mô vốn của Vietcombank trong giai đoạn xem xét chẳng những được giữ vững mà còn có phần gia tăng khi vốn chủ sở hữu của ngân hàng này có sự tăng trưởng đáng kể và nguyên nhân của sự tăng trưởng này sẽ được phân tích sâu hơn trong phần sau *.
Huy động vốn Bên cạnh tín dụng, huy động vốn là mảng nghiệp vụ quan trọng nhất của một NHTM. Thông qua số tiền huy động được, NHTM có thể dùng để đầu tư hoặc cho các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế vay, mượn.2: Tình hình tăng trưởng vốn huy động Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012 Đơn vị: tỷ đồng 350,000 30% 25.42% 287,674 300,000 25% 242,940 253,420 250,000 20% 193,696 Tổng vốn huy động 200,000 173,422 13.69% % tăng trưởng vốn huy 10% động 100,000 50,000 4.31% 5% - 0% 2008 2009 2010 2011 2012 Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 2008 – 2012 Nhìn vào hình 2.2 ta thấy, tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam tăng dần qua các năm, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng thì lại có xu hướng biến động. Trong đó, mặc dù bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài * Xem tại phần “Quy mô vốn tổ chức tín dụng và mức độ an toàn vốn” (trang 24) 14 GVHD: TS. NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN chính thế giới, nhưng tốc độ tăng trưởng của tổng nguồn vốn huy động tại Vietcombank vẫn tăng trưởng khá nhanh vào nửa đầu giai đoạn xem xét với 11,69% trong năm 2009 và 25,42% vào 2010.