Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DNNVV 1. Cơ sở lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp DNNVV Ngày nay, doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước.
Doanh nghiệp tạo ra mọi loại của cải đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội, tạo ra việc làm, thu nhập cho hàng triệu người. Doanh nghiệp cũng là nơi trực tiếp triển khai các thành quả của nghiên cứu thành hiện thực. Sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế đất nƣớc phụ thuộc rất lớn vào sự lớn mạnh của hệ thống doanh nghiệp. Theo Ngô Kim Thanh (2013): “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh, thực hiện các chức năng sản xuất, mua bán hàng hóa hoặc làm dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và xã hội, thông qua hoạt động hữu ích đó mà kiếm lời”.
Theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2015 (26/11/2014): “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Trong đó, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một hoặc một số công đoạn của quá trình đầu tƣ từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lời. [30] Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa, tên tiếng Anh viết tắt là SMEs (Smaill and medium enterprise) là những doanh nghiệp có số lao động hay doanh số ở dưới một mức giới hạn nào đó. Từ viết tắt SMEs được dùng phổ biến ở cộng 7 đồng các nước châu Âu, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Liên hợp quốc (UN), Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và được sử dụng nhiều nhất ở Mỹ.
Các nước thuộc cộng đồng châu Âu truyền thống có cách định nghĩa riêng về SMEs của riêng họ, ví dụ ở Đức được định nghĩa là những doanh nghiệp có số lao động dưới 500 người, trong khi đó ở Bỉ là 100 người. Tuy nhiên, đến nay Liên minh châu Âu đã có khái niệm về SMEs chuẩn hóa hơn. Theo đó, những doanh nghiệp có dưới 50 lao động là doanh nghiệp nhỏ, còn các doanh nghiệp có trên 250 lao động là doanh nghiệp vừa. Ngược lại, ở Mỹ những doanh nghiệp có dưới 100 lao động là doanh nghiệp nhỏ và dưới 500 lao động là doanh nghiệp vừa.
Như vậy, ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực có các định nghĩa về DNVVN là khác nhau, chính sự khác nhau đã khiến cho việc nghiên cứu các doanh nghiệp vừa và nhỏ trở nên khó khăn hơn. Ở Việt Nam, tùy theo từng giai đoạn cụ thể khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ được đưa ra để phù hợp với mục đích của việc xác định và mức độ phát triển doanh nghiệp. Đến nay, khái niệm DNNVV về cơ bản được hiểu theo định nghĩa trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên). Tuy nhiên, việc phân loại DNNVV theo tiêu chí “quy mô tổng nguồn vốn” sẽ có khó khăn trong xác định loại hình doanh nghiệp do quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán) của doanh nghiệp hay thay đổi.
Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp gồm: vốn chủ sở hữu, vốn vay ngân hàng và phải trả người 8 bán… Trong khi vốn chủ sở hữu tương đối ổn định thì vốn vay ngân hàng và phải trả người bán lại thường xuyên biến động. Vì vậy tổng nguồn vốn của doanh nghiệp cũng thường xuyên biến động. Một doanh nghiệp được xếp vào loại doanh nghiệp nhỏ nhưng ngày mai có thể đã trở thành doanh nghiệp vừa và ngược lại. Khái niệm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Trước hết cần làm rõ khái niệm “phát triển”, “phát triển” tuy ban đầu được các nhà kinh tế học định nghĩa là “tăng trưởng kinh tế”, nhưng nội hàm của nó từ lâu đã vượt khỏi phạm vi này, được nâng cấp sâu sắc hơn và chính xác hơn.
Theo Từ điển Tiếng Việt “phát triển” được hiểu là quá trình vận động, tiến triển theo hướng tăng lên, ví dụ phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, phát triển xã hội… Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “phát triển” là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới. Phát triển là một thuộc tính của vật chất. Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong, nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” Phát triển DNNVV bao gồm: Gia tăng số lượng DN, mở rộng quy mô DN, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng thêm số lượng sản phẩm mới, đẩy mạnh liên kết giữa các DN, mở rộng thị trường, tăng kết quả sản xuất và đóng góp cho xã hội 1. Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Việc phân loại DNNVV thường dựa vào một số tiêu chí nhất định.
Trong các nước APEC tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất là số lao động. Còn một số tiêu chí khác thì tùy điều kiện của từng nước. Tuy nhiên sự phân loại doanh nghiệp theo quy mô lại thường chỉ mang tính tương đối và phụ 9 thuộc vào nhiều yếu tố như: Trình độ phát triển kinh tế của một nước; tính chất ngành nghề; vùng lãnh thổ; tính lịch sử; mục đích phân loại. Như vậy có thể xác định được quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc một ngành hoặc một địa bàn cụ thể theo công thức sau: F(Sba) = Ib* Ia* Sa/ Id F(Sba): quy mô một doanh nghiệp thuộc một ngành và trên một lãnh thổ cụ thể.
Ib, Ia, Id: tương ứng là hệ số vùng, ngành, hệ số tăng trưởng quy mô doanh nghiệp. Sa: quy mô vừa và nhỏ chung trong một nước.1: Tiêu chí doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước Số lao Quốc gia/ Phân loại động bình Vốn đầu tư Doanh thu Khu vực DNVVN quân A. NHÓM CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN Không quy Không quy 1. Hoa Kỳ Nhỏ và vừa 0 - 500 định định Đối với ngành 1 - 300 ¥ 0 – 300 triệu sản xuất 2.
Nhật Đối với ngành 1 - 100 ¥ 0 – 100 triệu Không quy thương mại định Đối với ngành 1 - 100 ¥ 0 – 50 triệu dịch vụ Siêu nhỏ < 10 Không quy 3. EU Không quy định 10 Số lao Quốc gia/ Phân loại động bình Vốn đầu tư Doanh thu Khu vực DNVVN quân Nhỏ < 50 định < € 7 triệu Vừa < 250 < € 27 triệu 4. Australia Nhỏ và vừa < 200 Không quy Không quy định định 5. Canada Nhỏ < 100 Không quy < $ 5 triệu định $ 5 triệu – 20 Vừa < 500 triệu 6.
New Zealand Nhỏ và vừa < 50 Không quy Không quy định định 7. Korea Nhỏ và vừa < 300 Không quy Không quy định định 8. Taiwan Nhỏ và vừa < 200 < NT$ 80 triệu < NT$ 100 triệu B. NHÓM CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 1.
Thailand Nhỏ và vừa Không quy < Baht 200 Không quy định triệu định 2. Malaysia Đối với ngành 0 - 150 Không quy RM 0 – 25 sản xuất định triệu 3. Philippine Nhỏ và vừa < 200 Peso 1,5 - 60 Không quy triệu định 11 Số lao Quốc gia/ Phân loại động bình Vốn đầu tư Doanh thu Khu vực DNVVN quân 4. Indonesia Nhỏ và vừa Không quy < US$ 1 triệu < US$ 5 triệu định 5.
Brunei Nhỏ và vừa 1 - 100 Không quy Không quy định định C. NHÓM CÁC NƯỚC CÓ NỀN KINH TẾ ĐANG CHUYỂN ĐỔI 1. Russia Nhỏ 1 - 249 Không quy Không quy Vừa 250 – 999 định định Nhỏ 50 - 100 Không quy Không quy 2. China Vừa 101 – 500 định định Nhỏ < 50 Không quy Không quy 3.
Poland Vừa 51 – 200 định định Siêu nhỏ 1 - 10 Không quy Không quy 4. Hungary Nhỏ 11 – 50 định định Vừa 51 – 250 Nguồn: APEC, 1998; UN/ECE, 1999; OECD, 2000 Bảng 1 cho thấy, hầu hết các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân làm cơ sở quan trọng để phân loại doanh nghiệp theo quy mô. Điều này là hợp lý hơn so với việc lựa chọn các tiêu chí khác như doanh thu, vốn. là các chỉ tiêu có thể lượng hóa được bằng giá trị tiền tệ.
Các tiêu chí như doanh thu, vốn tuy rất quan trọng nhưng thường xuyên chịu sự tác động bởi những biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, tình trạng lạm phát. 12 nên thiếu sự ổn định trong việc phân loại doanh nghiệp. Điều này giải thích tại sao tiêu chí số lao động bình quân được nhiều quốc gia lựa chọn, tiêu chí này thường có tính ổn định lâu dài về mặt thời gian, lại thể hiện được phần nào tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp đang tham gia. Số liệu ở bảng 1 cũng cho thấy, đa số các quốc gia chỉ sử dụng 1 trong 3 tiêu thức đánh giá trên, đặc biệt là nhóm các nước kinh tế đang chuyển đổi.
Một số quốc gia khác sử dụng kết hợp 2 trong 3 tiêu thức nói trên. Một số ít quốc gia sử dụng kết hợp cả 3 tiêu thức số lao động, vốn và doanh thu. Ngân hàng thế giới (World Bank) và nhiều tổ chức quốc tế khác cũng đều sử dụng tiêu chí số lao động để đánh giá. Theo World Bank, doanh nghiệp được chia thành 4 loại tương ứng với số lượng lao động như sau: doanh nghiệp siêu nhỏ (số lao động < 10 người), doanh nghiệp nhỏ (số lao động từ 10 người đến dưới 50 người), doanh nghiệp vừa (số lao động từ 50 người đến 300 người), doanh nghiệp lớn (số lao động > 300 người), (theo Vũ Quốc Tuấn, Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ: Bài học kinh nghiệm của các nước và thực tiễn ở Việt Nam, NXB Thống kê, Hà Nội).
Ở Việt Nam hiện nay, tiêu chuẩn phân loại DNNVV được thực hiện theo điều Nghị định quy định 39/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 3 năm 2018, doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa.