CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐÈ TÀI 1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Lý luận chung về doanh nghiệp Căn cứ vào Luật Doanh nghiệp đã được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XI, kỳ hop thứ 8 thông qua ngày 29-11-2005, có hiệu lực từ ngày 01-7-2006, thay thế Luật Doanh nghiệp đã ban hành năm 1999, Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 và Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996, một số khái niệm cơ bản về doanh nghiệp được thống nhất như sau: 1. Doanh nghiệp là tô chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Kinh doanh là việc thực hiện liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tu, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhăm mục đích sinh lợi. Doanh nghiệp thuộc mọi thành phan kinh tế có quyền kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật không cắm. Trên thực tế khái niệm doanh nghiệp được hiểu nôm na, dùng chung đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức, các ngành nghề khác nhau, có tư cách pháp nhân. Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.
Hiện tại ở Việt Nam có loại hình doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, doanh nghiệp có trên 50% vốn nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên 100% vốn nhà nước. Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó thành viên có thể là tổ chức, cá nhân. Số lượng thành viên không vượt quá 50. Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tải sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp.
Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định của Luật doanh nghiệp. Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tô chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu. Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn điều lệ của công ty. Công ty TNHH không được quyên phát hành cô phiếu.
Công ty cô phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phan bằng nhau gọi là cổ phan. Cổ đông có thê là tổ chức hoặc cá nhân có cô phan. Số lượng cô đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
Cổ đông có quyền tự do chuyên nhượng cô phần của mình cho người khác. Công ty cô phần có quyền phát hành chứng khoán các loại dé huy động vốn. CTCP có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyên đổi và các loại trái phiếu khác theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty. Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung.
Ngoài các thành viên hợp danh còn có các thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
Doanh nghiệp tư nhân là một doanh nghiệp do một cá nhân làm chu và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ một loại chứng khoán nào. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Nhóm công ty là tập hợp công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.
Nhóm công ty bao gồm các hình thức: Công ty mẹ - công ty con, tập đoàn kinh tế và các hình thức khác. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện đầu tư tại Việt Nam hoặc doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cô phần, sáp nhập, mua lại. Doanh nghiệp công nghiệp là doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh các sản phẩm công nghiệp. Hộ sản xuất, kinh doanh (hộ cá thé, hộ gia đình) là cơ sở sản xuất kinh doanh quy mô gia đình, có dưới 10 lao động thường xuyên (theo Nghị định 109 - CP ngày 02/4/2004 về Đăng ký kinh doanh).
Trong khuôn khổ luận văn này, nghiên cứu tập trung vào loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa, chiếm số lượng rất lớn và đóng góp ngày càng nhiều cho xã hội, lại dễ bị tốn thương nhất trong quá trình hội nhập. Doanh nghiệp nhỏ và vừa với tiêu chí được xác định ở phần sau đây. Doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Điều 03 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ định nghĩa về DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Trong thực tế hiện nay, một SỐ CƠ quan Nhà nước, một số tô chức chính trị - xã hội dé hỗ trợ doanh nghiệp đã chủ động đưa ra các tiêu chí quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa để phục vụ cho công tác của mình như: - Ngân hàng công thương Việt Nam quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa là: doanh nghiệp có dưới 500 lao động, von có định nhỏ hơn 10 tỷ VNĐ, vốn lưu động dưới 08 tỷ VNĐ, doanh thu tháng không quá 20 ty đồng VNĐ.
- Liên Bộ Lao động Thương binh & xã hội và Tài chính quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa là: Lao động thường xuyên dưới 100 người, doanh thu một năm nhỏ hơn 10 tỷ VNĐ, vốn pháp định không quá 01 tỷ VNĐ. - Dự án VIE/US/95/2004 hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam lại có quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa là: Lao động dưới 200 người, vốn 15 đăng ký 0,4 triệu USD (khoảng 06 tỷ VND). Vi vậy, căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thé của địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, có thé linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn va lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên. Trong luận văn này tiêu chí DNNVV tuân theo tinh thần Điều 03, Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thé giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tương đồng như sau: - Giữ vai trò quan trong trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chiếm ty trọng lớn, thậm chi áp dao trong tổng số doanh nghiệp (Ở Việt Nam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95%). Vì thé, đóng góp của DNNVV vào tông sản lượng và tạo việc làm là rat đáng kể. - Giữ vai trò ôn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ôn định.
Vì thế, DNNVV được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế. - Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô nhỏ, nên dé điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động. - Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng dé lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh. - Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa phương và là thành phần kinh tế đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, tạo sản lượng và giải quyết việc làm cho người lao động ở địa phương.
16 Với vai trò vô cùng quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế, vì vậy nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển nói chung và đổi mới công nghệ nói riêng. Những chính sách đó nhất là chính sách về tài chính sẽ được đề cập ở các chương sau. Công nghệ và đối mới công nghệ 1. Công nghệ Thuật ngữ công nghệ gần đây đã được nhiều người thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm, đã có nhiều tổ chức quốc tế về khoa học và công nghệ có gắng đưa ra một định nghĩa công nghệ có thể dung hoà các quan điểm, đồng thời tạo thuận lợi cho việc phát triển và hoà nhập của các quốc gia, trong từng khu vực và phạm vi toàn cầu.
Theo Tổ chức phát triển công nghiệp liên hợp quốc UNIDO thi: Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp, bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thông và có phương pháp. Định nghĩa này của UNIDO đứng trên góc độ một tô chức phát triển công nghiệp, nhân mạnh tính khoa hoc là thuộc tính của công nghệ và khía cạnh hiệu quả khi xem xét sử dụng công nghệ cho một mục đích nao đó. Theo tô chức Uy ban kinh tế xã hội Châu A - Thái Bình Dương ESCAP thì: Công nghệ là hệ thong kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng dé chế biến vật liệu và thông tin. Và sau đó ESCAP mở rộng thêm: Công nghệ bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo, dịch vụ quản lý, thông tin.
Định nghĩa này không coi công nghệ phải gắn chặt với quá trình sản xuất chế tạo ra các sản phẩm cụ thể, mà còn mở rộng khái niệm công nghệ ra lĩnh vực dich vụ và quan lý, vì vậy nó được coi là một bước ngoặt trong lich sử quan niệm về công nghệ.