Chương 1. Cơ sở lý luận về tổ chức khoa học và công nghệ và quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tô chức khoa học và công nghệ Chương này làm rõ những khái niệm cơ bản liên quan đến chế độ "Tự chủ, tự chịu trách nhiệm" của tổ chức KH&CN và tác động của chế độ "Tự chủ, tự chịu trách nhiệm" đến hoạt động của tô chức KH&CN. Một sô khái niệm cơ bản của Luận văn 1. Tổ chức khoa học và công nghệ Theo TS.
Trịnh Ngọc Thạch tại Bài giảng Tổ chức Khoa học và Công nghệ, "Tổ chức" là một nhóm người tập hợp nhau lại dé cung thuc hién muc tiêu chung, có su phân công lao động theo vi trí công việc, hình thành một hệ thống cấu trúc; là tập hợp hành động của chủ thê quản lý vào đối tượng thông qua các quyết định nhằm thực hiện mục tiêu của tô chức; là một công cụ dé thực hiện mục tiêu của nó. Tổ chức có mục tiêu chung vả mục tiêu cụ thể; có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; có sự phân công rõ ràng về vị trí, nhiệm vụ của từng thành viên, có bộ máy lãnh đạo quản lý và có các nguồn lực dé duy trì và vận hành. Hoạt động khoa học và công nghệ là cơ sở thiết kế tổ chức. Theo Luật khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 ngày 18/06/2013,"Hoạt động khoa học và công nghệ" là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ.
Mục tiêu của hoạt động KH&CN là xây dựng nền KH&CN tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý; sử dụng hợp lý tải nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường; đây mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nên văn hoá tiên tiễn, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người mới Việt Nam; góp phần phát triển nhanh, bền vững kinh tế xã hội. Trong hoạt động KH&CN, phải bảo đảm các nguyên tắc sau: hoạt động KH&CN phải phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế 10 - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; xây dựng và phát huy năng lực KH&CN, kết hợp với việc tiếp thu có chọn lọc các thành tựu KH&CN của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kết hợp chặt chẽ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ với khoa học xã hội và nhân văn; gan nghién cuu khoa hoc va phat trién công nghệ với giáo duc va dao tạo, với hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát triển thị trường công nghệ; phát huy khả năng lao động sáng tạo của mọi tô chức, cá nhân; trung thực, khách quan, dé cao dao duc nghé nghiệp, tu do sáng tao, dân chu, tự chu, tự chịu trách nhiệm. Hoạt động khoa học là lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp vì nó khám phá ra các tri thức về thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó sáng tạo ra các nguyên lý giải pháp mới hay sáng tạo ra các mô hình kỹ thuật quản lý xã hội mới phục vụ cho con người cải tạo thế giới, phát triển kinh tế xã hội, văn hóa.
Hoạt động khoa học tạo nên tính sáng tạo, tính mới, mang tính rủi ro cao và đặc biệt vai trò cá nhân trong hoạt động khoa học rất lớn. Thực tiễn sản xuất, hoạt động xã hội đặt ra nhiều vấn đề cho khoa học giải quyết và đòi hỏi khoa học đưa ra những căn cứ, những nguyên lý giải pháp hay mô hình dé phát triển tri thức, tìm hiệu thê giới tự nhiên, xã hội phục vụ cho xã hội. Hoạt động công nghệ là tất cả những hoạt động liên quan đến các quá trình nghiên cứu triển khai sản xuất và thị trường áp dụng công nghệ. Nội dung chính của hoạt động công nghệ là biến các tri thức tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến thành những yếu tố của sản xuất nhằm nâng cao sức sản xuất của xã hội và con người.
Hoạt động công nghệ là hoạt động tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phâm mới gồm các bước triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm. Các hoạt động nghiên cứu trong quá trình sản xuất (tìm ra các giải pháp mang tính sáng tạo cao, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả, giảm chi phí,.); các hoạt động nghiên cứu trong quá trình giáo dục, đào tạo (xây dựng, phát triển chương trình, quy trình, kiểm tra, đánh giá; tìm tòi tri thức, phát minh, phát hiện khoa học, chuyên giao tri thức, công nghệ trong quá trình giáo dục, dao tao) và các hoạt động nghiên cứu trong hoạt động 11 kinh doanh, dich vụ, chuyên giao công nghệ đòi hỏi nhu cầu phải thành lập tổ chức KH&CN. Theo Luật Khoa học và công nghệ năm 2013, "Tổ chức khoa học và công nghệ" được định nghĩa là tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật. Các hình thức tổ chức KH&CN bao gồm: tô chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ theo hình thức viện nghiên cứu và phát triển, trung tâm nghiên cứu và phát triển, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm và cơ sở nghiên cứu và phát triển khác; cơ sở giáo duc đại học theo quy định tại Khoản 1 Điều 7 Luật Giáo dục đại học năm 2012; tổ chức dịch vụ KH&CN.
Tô chức khoa học và công nghệ được hình thành trong các cơ sở sản xuât, cơ sở đào tạo đại học, các cơ sở kinh tê. Cơ sở hạ tâng của các tô chức KH&CN bao gồm: nhân lực, vật lực, tài lực và tin lực. - Nguồn nhân lực của các tổ chức khoa học và công nghệ là tất cả những người tham gia vào công tác nghiên cứu khoa học, công nghệm, dịch vụ khoa học và công nghệ, được đào tạo và bồi dưỡng ở các trình độ, mức độ khác nhau, có thê được tuyển dụng, biên chế vào các vị trí khác nhau trong hệ thống tổ chức KH&CN; - Nguồn tài chính của các tổ chức KH&CN rat đa dạng. Đối với các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như nước ta thường có các nguồn sau: ngân sách nhà nước, thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, các hợp đồng khoa học, tai trợ của các tổ chức kinh tế - xã hội trong và ngoài nước.
Tỉ lệ các nguồn thu của các tổ chức khoa học và công nghệ là khác nhau đối với các loại hình tổ chức khác nhau, cũng thé hiện chính sách của quốc gia đó về khoa học và công nghệ; 12 - Cơ sở hạ tầng của các tổ chức KH&CN còn bao gồm cơ sở vật chat: nhà, xưởng, máy móc trang thiết bị, phòng thí nghiệm,mạng truyền thong,.; - Hệ thống thông tin: sách, báo, tạp chí khoa học, băng, dia ghi hình, tài liệu online. Tổ chức nghiên cứu và triển khai là tổ chức dưới các hình thức: Viện nghiên cứu và triển khai, trung tâm nghiên cứu và triển khai, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm và các cơ sở nghiên cứu và triển khai khác. Nhiệm vụ của các tô chức nghiên cứu và triển khai theo quy mô tổ chức và phạm vi hoạt động. Tùy phân cấp quản lý hành chính, các tô chức nghiên cứu triên khai được chia thành: - Các tổ chức nghiên cứu và triển khai cấp quốc gia, được thành lập chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ ưu tiên, trọng điểm của nhà nước, nhằm cung cấp các luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách, pháp luật, tạo ra các kết quả khoa học và công nghệ mới có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh; - Các tổ chức nghiên cứu và triển khai cấp Bộ, cơ quan ngang Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được thành lập nhằm thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của ngành, địa phương đó; - Các tổ chức nghiên cứu và triển khai cấp cơ sở thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo mục tiêu và nhiệm vụ do tô chức, cá nhân thành lập xác định.
Các loại hình tô chức nghiên cứu và triên khai gôm có: - Viện Hàn lâm khoa học và một tô chức khoa học và công nghệ, trong đó bao gồm một tập hợp các viện nghiên cứu khoa học với 13 nhiều lĩnh vực khác nhau. Mỗi lĩnh vực được tổ chức thành một số viện nghiên cứu chuyên ngành; Khu công nghệ cao là nơi tô chức các hoạt động phục vu cho phát triển công nghệ cao và công nghiệp công nghệ cao gồm các tổ chức nghiên cứu và triển khai, cơ sở đào tạo, huấn luyện, các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ trong lĩnh vực công nghệ cao nhằm tiếp thu, cải tiến các công nghệ cao và sản xuất các sản phẩm công nghệ cao; Các tổ chức nghiên cứu và triển khai cap quốc gia, cấp Bộ, cơ quan ngang Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ươnggồm có các viện nghiên cứu cơ bản, viện nghiên cứu chính sách, viện nghiên cứu công nghệ; Các tổ chức nghiên cứu và triển khai cấp cơ sở được các doanh nghiệp thành lập dé nghiên cứu những van dé kỹ thuật — công nghệ phục vụ đôi mới công nghệ, tăng sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tô chức KH&CN được hiéu là sự "Tự chủ, tự chịu trách nhiệm" của tổ chức KH&CN công lập được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật. Thuật ngữ này được sử dụng không chỉ đối với các tô chức KH&CN công lập mà còn đôi với tat cả các đơn vi sự nghiệp công lập khác.
Tuy nhiên, nó không được định nghĩa chặt chẽ trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Căn cứ vào các điều khoản trong văn bản, ta có thé tách "tự chu, tự chịu trách nhiệm" ra làm hai phân và được hiéu như sau - "Tự chủ" (Autonomy) là quyền của tổ chức KH&CN được chủ động đặt ra kế hoạch và thực hiện các hoạt động KH&CN thông qua các phương tiện san có. Vé mặt từ vựng, "Tu chủ" được hiệu là 14 quyền được tự mình đưa ra các phương hướng hoạt động cho mình và quyền tự mình tìm kiếm, sử dụng các nguồn nhân lực và phương tiện dé thực hiện các hoạt động đó.