MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài : Khoa học và Công nghệ được Đảng và Nhà nước xác định là “Quốc sách hàng đầu”, thúc đẩy phát triển Khoa học và Công nghệ là nhiệm vụ then chốt trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, như văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X đã chỉ rõ trong mục tiêu phát triển kinh tế xã hội: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công hiệp theo hướng hiện đại”.[11] Muốn hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vào năm 2020 thì Khoa học và Công nghệ cần phát triển phù hợp giữa các vùng – miền, cân đối giữa trung ương và địa phương đáp ứng yêu cầu hội nhập nhằm nâng cao trình độ công nghệ các ngành kinh tế, các địa phương nhất là vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Năm 2003 Chiến lược phát triển Khoa học và Công nghệ đến năm 2010 đã được ban hành và sau đó là hàng loạt các Bộ Luật quan trọng liên quan đến phát triển Khoa học và Công nghệ được Quốc hội thông qua, trong đó có Luật Chuyển giao công nghệ ban hành năm 2006 có tác dụng thúc đẩy mạnh các hoạt động chuyển giao công nghệ, hoàn thiện và thương mại hóa công nghệ, chuyển nhanh các kết quả nghiên cứu vào khu vực sản xuất kinh doanh.[3] Để thúc đẩy chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào đời sống sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội ở các địa phương, mạng lưới các Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ cũng được thành lập theo Thông tư liên tịch số 15/2003/TTLT-BKHCN-BNV, ngày 15 tháng 7 năm 2003 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ. Năm 2005 Chính phủ bàn hành Nghị định số: 115/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2005 Quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ 7 z chức khoa học và công nghệ công lập.
Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ cấp tỉnh là đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số: 115/2005/NĐ-CP nhằm các mục đích: - Tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo của tổ chức khoa học và công nghệ và thủ trưởng tổ chức khoa học và công nghệ. - Tạo điều kiện gắn nghiên cứu và phát triển công nghệ với sản xuất, kinh doanh và đào tạo nhân lực, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa các hoạt động khoa học và công nghệ. - Tạo điều kiện tập trung đầu tư có trọng điểm cho các tổ chức khoa học và công nghệ.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ, góp phần tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước. [5] Năm 2006 Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài Chính và Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số: 12/2006/TTLT/BKHCN-BTC-BNV ngày 05 tháng 6 năm 2006 về Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Để giúp Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện chức năng quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện các hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ trong phạm vi cả nước Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 393/QĐ-TTg ngày 13 tháng 3 năm 2006 về việc thành lập Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ trực thuộc Bộ Khoa học. Theo báo cáo của Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ - Bộ Khoa học và Công nghệ tại Hội thảo toàn quốc Giám đốc các Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ địa phương lần II tại Hải Dương từ ngày 29 đến ngày 30 tháng 10 năm 2009 thì các Trung tâm đang trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP.
Hiện có: 8 z - 25/55 Trung tâm đã được phê duyệt đề án chuyển đổi theo NĐ 115, chiếm 45,5%; - 15/55 Trung tâm đang trình phê duyệt đề án chuyển đổi, chiếm 27,3%; - 07/55 Trung tâm đang xây dựng đề án chuyển đổi, chiếm 12,7%; - 08/55 Trung tâm chưa xây dựng đề án chuyển đổi, chiếm 14,5%. Từ các số liệu nêu trên cho chúng ta thấy rằng các Trung tâm đang gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng đề án chuyển đổi theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP. Để thực hiện chuyển đổi thành công theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP còn khó khăn hơn nhiều. Là một cán bộ của Trung tâm ứng dụng tiến khoa học và công nghệ Tiền Giang, trăn trở với quán trình chuyển đổi và với lòng mong mõi sẽ được tham gia góp ý vào việc tìm ra các yếu tố cơ bản để các Trung tâm cấp tỉnh thực hiện thành công Nghị định 115/2005/NĐ-CP, tôi đã chọn đề tài này để thực hiện luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ của mình.
- Ý nghĩa lý thuyết: Vấn đề nghiên cứu giúp chúng ta nhận thức được rằng, chuyển đổi các Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ cấp tỉnh theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP về tự chủ, tự chịu trách nhiệm là nhiệm vụ khách quan và cần thiết. Các cấp lãnh đạo cần có các chính sách phù hợp, tạo động lực cho việc chuyển đổi. Các nhà quản lý, các cán bộ viên chức của các Trung tâm cần phải chủ động và linh hoạt trong việc thực hiện chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm để Trung tâm ngày càng hoạt động có hiệu quả, góp phần chuyển giao nhanh các tiến bộ khoa học công nghệ vào phục vụ sản xuất và đời sông ở địa phương. - Ý nghĩa thực tiễn: + Từ kết quả nghiên cứu lý thuyết về thực trạng hoạt động của các Trung tâm của các tỉnh Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Vĩnh Long và Đồng Tháp trong quá trình thực hiện chuyển đổi theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP.
Đề tài đưa ra các yếu tố cơ bản để các Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học 9 z công nghệ cấp tỉnh tương đồng về điều kiện địa lý thực hiện thành công theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ. + Đề tài thành công trước hết sẽ tạo nên hiệu quả tích cực trong việc thực hiện thành công Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học công nghệ tỉnh Tiền Giang. + Kết quả của đề tài sẽ làm tài liệu cho các Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học công nghệ các tỉnh có tính tương đồng về điều kiện địa lý tham khảo. + Kết quả của đề tài cũng sẽ làm tài liệu cho các Trung tâm hoạt động trên các lĩnh vực khác tham khảo.
Tổng quan tình hình nghiên cứu: 2. Kinh nghiệm ở nước ngoài: Trong mục này, Luận văn tập trung giới thiệu kinh nghiệm từ Trung Quốc – Quốc gia có nhiều điểm tương đồng về thể chế chính trị và cơ chế quản lý kinh tế, xã hội với Việt Nam. Ngay từ những năm 80 của thế kỷ XX Trung Quốc đã có những cải cách thể chế khoa học và công nghệ cho đến nay. Có thể chia quá trình cải cách thể chế KH&CN của Trung Quốc ra thành 4 giai đoạn (đi liền với quá trình này là quá trình trong chuyển đổi các tổ chức nghiên cứu và phát triển) : Giai đoạn1: Cải cách thể chế bước đầu (1985-1990).
[14] Năm 1985 đánh dấu mốc lịch sử về cải cách thể chế KH&CN của Trung Quốc - Hội nghị Trung ương Đảng ra “Quyết định cải cách hệ thống quản lý KH&CN” với những nội dung cơ bản về cải cách cấp phát tài chính, xây dựng và phát triển TTCN. Nguyên tắc quản lý hoạt động KH&CN trong giai đoạn này là “bịt chặt một đầu và mở rộng một đầu”. Nghĩa là quản lý chặt kinh phí của nhà nước cấp, đồng thời khuyến khích các cơ quan nghiên cứu khai thác các nguồn tài chính khác, như thông qua các hợp đồng sản xuất. Mặc dù đạt được một số kết quả ban đầu như tạo nên một số ngành nghề mới dựa trên công nghệ cao và mới, nhưng nhìn chung toàn bộ hệ thống NC&PT không có gì thay đổi.
Đặc biệt thị trường công nghệ được hình thành 10 z trong giai đoạn này chưa đảm nhận được vai trò là nơi trao đổi giữa người bán và người mua và là công cụ để tăng cường mối liên kết giữa hai khu vực nghiên cứu và sản xuất. Giai đoạn 2: Tiếp tục cải cách sâu hơn (1991-1993). Năm 1992, Quốc vụ viện Trung Quốc quyết định tiếp tục cải cách sâu hơn thể chế KH&CN với hai tư tưởng chủ đạo: Một là, biến xí nghiệp trở thành chủ thể tiếp nhận kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; khuyến khích chuyển đổi viện nghiên cứu ứng dụng và thiết kế thành doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp lớn và trung bình xây dựng và kiện toàn trung tâm KH&CN trong doanh nghiệp. Hai là, tổ chức lại hệ thống NC&PT gắn với sản xuất.
Tinh thần chủ đạo trong giai đoạn này là “ổn định một đầu, mở rộng một đầu”. Nghĩa là nhà nước tập trung đầu tư cho một số viện nghiên cứu cơ bản và mang tính công ích (ổn định một đầu); những viện còn lại khuyến khích chuyển đổi theo hướng thành lập các doanh nghiệp KH&CN (mở rộng một đầu). Tăng cường lưu chuyển cán bộ, khuyến khích cán bộ nghiên cứu chuyển sang làm việc tại khu vực sản xuất. Giai đoạn 3: Chuyển đổi mạnh về tổ chức đối với các viện và tăng khả năng thâm nhập thị trường (1994-1996).
Giai đoạn này đã thu được một số kết quả ban đầu. Thu nhập từ hợp đồng của các viện tăng nhiều so với ngân sách nhà nước cấp. Số lượng cán bộ khoa học lưu chuyển tăng lên. Mặc dù vậy, khung tổ chức vẫn không có gì thay đổi (một số viện nhập vào công ty nhưng sau lại xin ra).
Từ 1997 đến 1999, Trung Quốc tiến hành thí điểm chuyển đổi một số viện. Từ những bài học kinh nghiệm này, tháng 5/1999, Quốc vụ viện ra quyết định chuyển 242 viện thành doanh nghiệp thuộc 10 bộ.