phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có cấu trúc 3 chƣơng gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của liên kết giữa nghiên cứu khoa học-đào tạo- sản xuất đối với hiệu quả khai thác các phòng thí nghiệm 1. Tổng quan về khai thác phòng thí nghiệm 1. Tổng quan về mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học-đào tạo-sản xuất 1. Hiệu quả khai thác PTN tại các tổ chức Khoa học và công nghệ Chƣơng 2: Thực trạng mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học-đào tạo- sản xuất trong việc khai thác các phòng thí nghiệm tại Viện Ứng dụng Công nghệ 2.
Tổng qua hệ thống phòng thí nghiệm tại Viện Ứng dụng Công nghệ 2. Thực trạng liên kết giữa nghiên cứu khoa học - đào tạo - sản xuất trong việc khai thác các phòng thí nghiệm tại tổ chức nghiên cứu KH&CN 2. Thực trạng mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học-đào tạo-sản xuất trong việc khai thác các phòng thí nghiệm tại Viện Ứng dụng Công nghệ Chƣơng 3: Hình thành mối liên kết nghiên cứu khoa học-đào tạo-sản xuất tại Viện Ứng dụng Công nghệ 3. Đánh giá hiệu quả khai thác các phòng thí nghiệm tại Viện Ứng dụng Công nghệ 3.
Hình thành liên kết giữa nghiên cứu khoa học-đào tạo-sản xuất tại Viện Ứng dụng Công nghệ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LIÊN KẾT GIỮA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC-ĐÀO TẠO-SẢN XUẤT ĐỐI VỚI HIỆU QUẢ KHAI THÁC CÁC PHÒNG THÍ NGHIỆM 1.Tổng quan về khai thác phòng thí nghiệm 1.Các khái niệm cơ bản Thí nghiệm: là những thao tác kỹ thuật đƣợc tiến hành phục vụ cho nghiên cứu khoa học (viện nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu), giảng dạy (trƣờng đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trƣờng dạy nghề…), sản xuất (nhà máy, xí nghiệp), quản lý (các cơ quan quản lý nhà nƣớc), dịch vụ (tổ chức cung cấp dịch vụ), xét nghiệm y tế (bệnh viện, phòng khám công lập). Phòng thí nghiệm (hay còn gọi là phòng thực nghiệm) là một cơ sở đƣợc thiết kế, xây dựng nhằm cung cấp các điều kiện, có đảm bảo an toàn cho việc triển khai các thí nghiệm, thực nghiệm trên các lĩnh vực đặc biệt là các lĩnh vực tự nhiên (sinh - lý - hóa.) phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học. Phòng thí nghiệm có thể là một căn phòng trong một tòa nhà, công trình hoặc là một tòa nhà công trình riêng biệt chuyên để thực hiện các thí nghiệm1. Thí nghiệm có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học của các Viê ̣n NCKH.
Thí nghiệm giúp cho con ngƣời phát triển tƣ duy, hình thành thế giới quan duy vật biện chứng nhờ vào quá trình chuyển từ tƣ duy cụ thể sang tƣ duy trừu tƣợng và ngƣợc lại. Đặc biệt, trong giảng dạy và nghiên cứu hóa học, thí nghiệm chính là nền tảng để tìm ra tri thức cũng nhƣ tiếp nhận tri thức. Khi làm thí nghiệm, ngƣời học sẽ đƣợc tiếp thu kiến thức một cách vững chắc, chính xác nhờ vào những hiện tượng cụ thể, sinh động. Thí nghiệm là cầu nối giữa lý thuyết và thực tế bởi vì rất nhiều thí nghiệm rất gần gũi với đời sống, gần gũi với các quy trình công nghệ.
Bên cạnh đó, thí nghiệm còn giúp chúng ta rèn luyện các kỹ năng thực hành, từ đó hình thành những đức tính tốt cho ngƣời lao động nhƣ tính cẩn thận, khoa học và kỷ luật 1 https://vi.org/wiki/ Phongthinghiem 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Phân loại Phòng Thí nghiệm Có khá nhiều cách phân loại các phòng thí nghiệm để tiện việc quản lý , theo dõi. Trong pha ̣m vi đề tài tác giả chỉ đề cập mấy dạng phân loại phòng thí nghiệm thông dụng: (i) Phân loại theo đối tƣợng khách hàng , ngƣời ta sẽ chia PTN ra nhiề u loa ̣i: - PTN của bên thứ nhất (phục vụ cho yêu cầu thử nghiệm hoặc hiệu chuẩn nội bộ); - PTN của bên thứ hai (khách hàng hoặc tổ chức đặt hàng); - PTN của bên thứ ba (PTN của cơ quan quản lý, PTN độc lập của các Viện nghiên cứu,. hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ thử nghiệm hoặc hiệu chuẩn); - PTN cố định, PTN có hoạt động ở bên ngoài, liên kết tạm thời hoặc di động. (ii) Phân loại theo quy mô, tính chấ t sẽ đƣơ ̣c chia thành các loại phòng thí nghiê ̣m khác nhau: - PTN chuyên ngành: đối với loại hình phòng thí nghiệm này, Nhà nƣớc chỉ hỗ trợ đầu tƣ một phần.
Loại hình này sẽ tạo điều kiện và phục vụ cho một số nhà khoa học đầu ngành rất chuyên sâu. Nhà nƣớc cũng hỗ trợ các tổ chức nghiên cứu chuyên sâu phát triển ở một số địa phƣơng và bộ, ngành để hình thành các phòng thí nghiệm chuyên ngành. - Phòng thí nghiệm trọng điểm : Phòng thí nghiệm trọng điểm là loại hình phòng thí nghiệm mở, dùng chung cho nhiều đối tƣợng khác nhau và đã đang đƣợc triển khai do Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng đề án và trình Thủ tƣớng chính phủ phê duyệt. Các dự án đầu tƣ của từng lĩnh vực cụ thể sẽ do các bộ, ngành có liên quan xây dựng và phê duyệt.
Để hình thành các phòng thí nghiệm này, Thủ tƣớng Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng quy chế tuyển chọn, tổ 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chức tuyển chọn và công nhận phòng thí nghiệm đƣợc chọn. Cơ cấu của phòng thí nghiệm này phụ thuộc vào nhu cầu phát triển của đất nƣớc. - Phòng thí nghiệm quốc gia : Loại hình phòng thí nghiệm này chỉ phục vụ cho những nhiệm vụ đặc biệt chuyên sâu mang tính quốc gia. (iii) Phân loại phòng thí nghiệm theo sở hữu hoă ̣c nguồ n vố n đầ u tƣ ngƣời ta sẽ chia làm: - Phòng thí nghiệm của Nhà nƣớc và của tƣ nhân.
(iv) Phân theo tin ́ h chấ t hoa ̣t đô ̣ng , sẽ chia ra l àm các loại PTN nhƣ sau: - Phòng thử nghiệm: là phòng thí nghiệm thực hiện các phép thử nghiệm. - Phòng hiệu chuẩ n : là phòng thí nghiệm thực hiện các phép hiệu chuẩ n - Phòng xét nghiệm: là phòng thí nghiệm thực hiện các phép xét nghiệm dùng cho chuẩ n đoán lâm sàng 1. Tổng quan về mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học - đào tạo - sản xuất 1.Hoạt động nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học:Theo Luật Khoa học và Công nghệ2, Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tƣợng tự nhiên, xã hội và tƣ duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy luật của sự vật, hiện tƣợng tự nhiên, xã hội và tƣ duy.
Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con ngƣời và xã hội. 2 Luật Khoa học và Công nghệ, Quốc hội (2013) 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Earl R. Babbie (1986)3, nghiên cứu khoa học (scientific research) là cách thức: (1) Con ngƣời tìm hiểu các hiện tƣợng khoa học một cách có hệ thống; và (2) Là quá trình áp dụng các ý tƣởng, nguyên lý để tìm ra các kiến thức mới nhằm giải thích cá sự vật hiện tƣợng. Theo Armstrong và Sperry (1994)4, nghiên cứu khoa học dựa vào việc ứng dụng các phƣơng pháp khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phƣơng pháp và phƣơng tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn.
Hình thức nghiên cứu này cung cấp thông tin và lý thuyết khoa học nhằm giải thích bản chất và tính chất của thế giới. Kết quả của nghiên cứu khoa học tạo ra những ứng dụng cho thực tiễn. Hoạt động nghiên cứu khoa học đƣợc tài trợ bởi các cơ quan chính quyền, các tổ chức tài trợ xã hội. Hoạt động nghiên cứu khoa học đƣợc phân loại tùy lĩnh vực học thuật và ứng dụng.
Nghiên cứu khoa học là một tiêu chí đƣợc sử dụng rộng rãi trong đánh giá vị thế của các cơ sở học thuật. Theo Vũ Cao Đàm 5, nghiên cứu khoa học là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phƣơng pháp mới và phƣơng tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con ngƣời. Nhƣ vậy, nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm hiểu, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm, dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức đạt đƣợc từ thực nghiệm, để phát hiện ra cái mới về bản chất sự vật, về thế tự nhiên và xã hội. Hoạt động khoa học và Công nghệ: Theo cách hiểu chung nhất, hoạt động khoa học và công nghệ là tập hợp toàn bộ các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàng kiến thức liên quan đến con ngƣời, tự nhiên và xã hội, nhằm sử dụng những kiến thức đó để toại ra những ứng dụng mới.
Babbie, (1986), The practice of social research 4 Armstrong, J. Business school prestige -- research versus teaching. 5 Vũ Cao Đàm (2015), Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục VN 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tại Việt Nam, theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ, hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm các hoạt động: nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ. Trong đó: - Nghiên cứu khoa học là loại hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tƣợng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tƣ duy; sáng tạo các giải phát nhằm ứng dụng vào thực tiễn.
Nghiên cứu khoa học gồm nghiên cúa cơ bản, nghiên cứu ứng dụng; - Phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới.