lời mở đầu - tr. 4 Dharmakirti - Pháp Xứng 5 Dignaga - Trần Na 17 Huyền Trang với " Luận Thành Duy Thức" do Hòa thượng Tuệ Sỹ dịch [109] được đánh giá rất cao trong lĩnh vực Duy thức học ở Việt Nam. Với việc tập hợp và giải thích các bộ Nhị thập luận và Tam thập luận, tác giả chứng minh tất cả tồn tại duy chỉ có thức: “…nói duy thức là nói rằng tất cả tồn tại ngoại giới hết thảy đều là sự biến hiện của thức, được sáng tạo bởi thức » [109, tr. Theo tác giả, trong quá trình nhận thức, đối tượng được nhận thức chẳng còn tồn tại như chính nó mà được xử lý và cấu trúc lại: “Tồn tại khi trở thành đối tượng của nhận thức, tồn tại ấy không xuất hiện trong thức nó như là nó, mà xuất hiện qua ảnh tượng được xử lý hay được cấu trúc bởi thức.
Quá trình xử lý đối tượng nhận thức này, tức quá trình tái cấu trúc thực hiện bởi thức này” [109, tr. Quá trình nhận thức được Huyền Trang phân tích và giảng giải một cách cụ thể: “Trong từng sát – na, từng đối tượng cá biệt xuất hiện và được thức nắm bắt. Nhưng chỉ khi nào có sự xuất hiện và đồng nhất tất cả những gì đã xuất hiện và đã biến mất trong nhiều sát – na, bấy giờ nhận thức mới đạt đến phán đoán, biết rằng cái đó là cái gì. Quá trình nhận thức như vậy được phân tích thành hai giai đoạn: giai đoạn đối tượng chưa được cấu trúc, và giai đoạn đã được tái cấu trúc” [109, tr.
Dưới góc độ lôgíc học hình thức, trong Lôgic học Phật giáo [82], Phạm Quỳnh tập trung nghiên cứu Duy thức học, trên cơ sở đó chỉ ra những đóng góp nhất định của logic học Phật giáo. Tác giả nhận định rằng: “Trong khi kế thừa và phê phán Logic học cổ Ấn Độ, Dignaga và Dharmakirti đã sử dụng nhận thức luận của Duy thức học thay thế cho nhận thức luận của Nyaya - Vaisesika. Đó là học thuyết Tam tự tính” [82, tr. Học thuyết Tam tự tính trong Duy thức học chỉ ra các cấp độ của quá trình nhận thức bao gồm: “Biến kế sở chấp tính, Y tha khởi tính và Viên thành thực tính” [82, tr.
Trong Luận Phật tính, Thế Thân đã đề cập đến thế giới Tam tự tính bao gồm: “Tính phân biệt, tính y tha và tính chân thật” [32, tr. 18 Trong Luận thành duy thức [87], tác giả Thích Thiện Siêu khi bàn về quá trình nhận thức, cho rằng: “Mọi hiện hữu trong thế gian cũng vậy, do thức phân biệt danh tướng, sắc, tâm, huân tập vào Tạng thức nhiều đời nhiều kiếp thành chủng tử (tập khí, thói quen), cố hữu, nên khi thức móng khởi thì liền hiện ra đủ các tướng đúng như khi được huân tập vào Tạng thức, và trong đó tự phân biệt ra Kiến Phần có năng lực nhận biết và Tướng phần là đối tượng của nhận biết. Kiến, Tướng phần như vậy là nhân duyên” [87, tr. Các công trình vừa được tổng quan trên đây vừa gián tiếp, trực tiếp đề cập đến một số khía cạnh nhất định của nhận thức luận có liên quan đến đề tài.
Những nghiên cứu này giúp tác giả có một cái nhìn sâu hơn về triết học Phật giáo để lấy đó làm cơ sở trong việc nhìn nhận, phân tích và đánh giá về nhận thức luận của Duy thức học. Những nghiên cứu đánh giá ý nghĩa và vận dụng Duy thức học Không trực tiếp bàn về Duy thức học, nhưng một số tác giả với những tác phẩm như: Lối vào nhân minh học [85], Nhân quả đồng thời [35], Trung luận [86], Siêu lý học [101] và Nietzsche và Đạo Phật [66] đã phần nào chỉ ra giá trị của những tư tưởng triết học trong Phật giáo như quan niệm về Vô ngã; hay trong Lối vào nhân minh học [85] cho thấy Ngài Vô Trước đã chỉ ra trong Tam Tập luận là: “lập tôn, lập nhân, lập dụ, hiệp, kết, hiện lượng, tỷ lượng, chí giáo lượng. Tám năng lập này gần giống tám năng lập của ngài Di - Lặc trong Du - già - sư - địa Luận” [85, tr. Cũng với nỗ lực hiện đại hóa Duy thức học, Thích Tâm Thiện trong Tâm lý học Phật giáo [104], đã cố gắng trình bày theo một cách thức mới, khác hẳn với logic trong lịch sử Duy thức học.
Tác giả thể hiện mong muốn giải quyết các vấn đề có tính quy mô rộng lớn của thực tiễn xã hội hơn là giải quyết các vấn đề chuyên môn thuật ngữ. Toàn bộ nội dung của tác phẩm đặt trọng tâm vào khai thác mảng tâm lý học của Duy thức học. 19 Với Tư tưởng Phật giáo trong triết học của Gilles Deleuze [36], Hồng Dương Nguyễn Văn Hai đã nỗ lực chỉ ra những so sánh giữa triết học Deleuze và Phật giáo. Deleuze đã đối chiếu tư tưởng của Phật giáo với nhiều tư tưởng triết học thời hiện đại như: Heidegger, Bergson, Spinoza, Kant.Chẳng hạn, trong khi bàn về vận động và hình ảnh, Deleuze bắt đầu với sự tóm lược phương pháp phân tích vận động của Bergson nhằm giải thích khái niệm Tất cả là Vô thường.
Bergson nhận định: “Bộ máy nhận thức của chúng ta không chỉ là một máy chiếu phim mà còn là một toán học gia tự nhiên. Quả vậy, ngay cả khi sự liên tục được chấp nhận, các giác quan cũng chỉ có thể khêu ra những cảm giác tức thời, và công việc tái tạo lại sự liên tục là phận sự của lý trí” [36, tr. Khác với tư tưởng của Bergson, theo giáo lý Phật giáo: “Thời tục là một cấu tạo, cảm giác tức thời là thực”, “Cảm giác tức thời, theo Trần Na, là một hình thái nhận thức (hay phương cách nhận thức) mệnh danh là hiện lượng. Hiện lượng trực tiếp nhận thức tự tướng bằng cảm giác đơn thuần, Tỷ lượng gián tiếp nhận thức tổng tướng bằng suy luận”; “Hiện lượng là phương cách nhận thức của năm thức đầu tức năm thức cảm giác: thấy, nghe, nếm, ngửi và xúc chạm; sự lượng biết còn trong sát na thứ nhất nghĩa là chưa qua tư duy phân biệt” [36, tr.
Khi đề cập đến thức Alạida của Duy thức, Garma C. Chang trong Triết học Phật giáo Hoa nghiêm tông [9] đã đưa ra những phân tích để đối sánh lý thuyết của Hoa Ngiêm Tông, Duy thức và Berkeley: “Từ tâm được dùng trong Hoa Nghiêm cũng như Duy thức có một ý nghĩa rất rộng. Nó cùng một lúc có tính chất tâm lý và siêu hình, luân lý và tôn giáo. Nó là toàn thể tâm lý của con người, bao gồm cả hữu thức và vô thức” [9, tr.271], “Duy thức dường như đi xa hơn Beckeley khi cả quyết rằng thế giới vật lý là một phóng hiện của Alaida, có thể thực sự chuyển hóa, nếu Alaida được chuyển hóa.
Đấng Thần linh biến tại hay Thượng Đế, đấng bao hàm và truyền sức sống cho “thế giới khách quan” của Beckeley rõ ràng là gợi mở cho chúng ta nhớ 20 đến Alaida của Duy thức. Sự khác biệt giữa Beckeley và Duy thức có lẽ là ở tính có thể tiếp cận, tính có thể biến cải và phương tiện nhận thức Tâm Pháp Giới6” [9, tr. Trong Tinh hoa và sự phát triển của đạo Phật [15], ED. Conze đã chỉ ra sự không đồng nhất trong tiếp cận về Phật giáo của các học giả phương Tây, và đi đến khẳng định: “tư tưởng Phật giáo tràn đầy cái mà ta gọi là tâm lý học.
Nó pha trộn siêu hình và tâm lý học một cách kỳ diệu đến nỗi ở phương Tây, chúng tôi không có một hình thức tư tưởng nào tương đương” [15, tr. Tác giả tiếp tục nhận định, nếu xem Phật giáo là một học thuyết triết học, thì hệ thống triết học này “ngoài tính chất thực nghiệm và sự nhấn mạnh về phương diện tâm lý, tư tưởng Phật giáo còn nghiêng về thứ mà chúng ta có thể gọi là biện chứng pháp” [15, tr. Tác phẩm Đại thừa và sự liên hệ với Tiểu thừa [19], Nalinaksha Dutt cố gắng nối liền lại hai dòng tư tưởng Tiểu thừa và Đại thừa, cũng như giúp chúng ta tìm được sự liên tục giữa hai dòng tư tưởng nhiều khi mâu thuẫn và chống đối này. Khi bàn về các cấp độ nhận thức, tác giả đã chỉ ra sự bổ sung của trường phái Đại thừa để hoàn thiện hơn về các cấp độ nhận thức trong triết học Phật giáo: “Từ đời vô thủy, tâm trí của chúng ta quá bị mê hoặc đến nỗi chúng ta không thể nhận thức, trong những ảo tưởng và hình bóng ấy, một cái gì đó hiện hữu hay một cái gì khác, với sự hiểu biết thông thường của chúng ta, chúng ta không thể vượt lên trên biến kế sở chấp, tức là Tục đế của phái Trung quán và các phái khác.
Các nhà Duy thức còn thêm một pháp nữa vào biến kế sở chấp, nói rằng biến kế sở chấp được sanh phải y vào một pháp khác, và như vậy phải luôn y tha khởi” [19, tr. Tóm lại; “Biến kế sở chấp và Y tha khởi liên hệ tới các pháp thế gian, các pháp vô thường, vô ngã và khổ của các nhà Tiểu thừa mà thôi. Còn Viên thành thực liên hệ tới Niết bàn, Tịnh lạc. mà tất cả phiền não và nghiệp chướng được diệt tận” [19, tr.
6 Tâm pháp giới – Tâm vũ trụ 21 Với Biện chứng giải thoát trong giáo lý Trung Hoa [43], Nghiêm Xuân Hồng tập trung so sánh sự khác nhau giữa hai nền văn minh Phương Đông và Phương Tây: “Trong khi Tây - phương nặng về triết - lý, thì Đông - phương thường chỉ nói đến Đạo. Cũng như trong khi nền luận - lý Tây - phương thường căn cứ tỷ lượng, nền nhân minh học của nhà Phật thường nhấn mạnh vào hiện lượng” [43, tr. Không đề cập trực tiếp đến Duy thức học và nhận thức luận trong Duy thức học nhưng những tác phẩm Cốt tuỷ của đạo Phật của tác giả Suzuki [89], Thích Mãn Giác với Nhân bản và nhân bản Phật giáo [31], hay Những thành tựu lẫy lừng trong tâm lý học hiện đại của Pierre. Daco [17], Murray Stein với Bản đồ tâm hồn con người của Jung [88] và Thăm dò tiềm thức của Carl Gustav Jung [48] đã cho tác giả một cách nhìn nhận mới về triết học Phật giáo, về hành trình nhận thức của con người trong sự đối sánh với một số khái niệm của triết học phương Tây.
Tác giả Suzuki trong Cốt tủy đạo Phật [89] cho thấy rằng, chính con người, chúng ta, với khả năng nhận thức của mình mới có thể làm cho thế giới lớn lên, và như vậy là cả chúng ta cũng đang lớn dần lên.