Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI Để có được một cách hiểu thống nhất và chính xác làm tiền đề cho việc phát triển đề tài luận văn, không thể không nghiên cứu một vấn đề hết sức nền tảng, đó là các khái niệm có liên quan. Một số khái niệm cơ bản: 1. Khái niệm khoa học: Một trong những đặc điểm quan trọng của thời đại ngày nay là sự phát triển như vũ bão của KH&CN, chỉ trong vòng một vài thập kỷ đã làm thay đổi bộ mặt và trật tự thế giới.
Nhiều nước và vùng lãnh thổ từ nghèo nàn, lạc hậu đã trở thành giàu có chỉ trong vòng một vài chục năm mà con đường đi lên của họ chủ yếu là dựa vào các thành tựu KH&CN, biết tận dụng các thành quả của các nước đi trước. Có thể nói, có rất nhiều khái niệm khoa học được đưa ra từ những nguồn tư liệu khác nhau: Từ điển Larousse (2002) của Pháp định nghĩa: “Khoa học là một tập hợp tri thức đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm về các sự kiện, sự vật và hiện tượng tuân theo một quy luật xác định”. Từ điển Triết học của Liên Xô (bản tiếng Việt, 1975) định nghĩa: “Khoa học là lĩnh vực hoạt động nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy bao gồm tất cả những điều kiện và những yếu tố của sự sản xuất này”. Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô (1986) định nghĩa: “Khoa học là lĩnh vực hoạt động của con người, có chức năng xử lý và hệ thống hóa về mặt lý thuyết các tri thức khách quan”, “Là một trong những hình thái ý thức xã hội, bao gồm trong đó cả những hoạt động nhằm thu nhận các kiến thức mới, và cả những kết quả của các hoạt động đó”.
12 Từ điển MacMillan English Dictionary for Advanced Learners (2006) định nghĩa: “Khoa học là một hoạt động nghiên cứu và kiến thức về thế giới vật lý và hành vi của nó, dựa trên các thực nghiệm và các sự kiện được kiểm chứng và được tổ chức thành hệ thống”. Tiếp theo định nghĩa này, trong từ điển MacMillan tách ra hai từ mục: (1) Khoa học là một lĩnh vực nghiên cứu (an area of study) sử dụng các phương pháp khoa học, và (2) Khoa học là một chủ đề nghiên cứu (a subject), chẳng hạn, vật lý học, hóa học. Từ điển Cobuild Learner’s Dictionary (2001) định nghĩa: “Khoa học là một study về giới tự nhiên và hành vi của giới tự nhiên”, đồng thời cũng đưa ra định nghĩa thứ hai: “Khoa học là những tri thức đạt được từ công việc nghiên cứu”. Còn study thì được định nghĩa là một “activities of studying”, nghĩa là một loại hoạt động.
Từ điển Hutchinson Dictionary of Ideas (1994) định nghĩa: Khoa học là “any systematic field of study”, nghĩa là một lĩnh vực nghiên cứu có hệ thống và “nhằm sản xuất ra (to produce) các tri thức”. Từ điển Xã hội học của Nguyễn Khắc Viện (1994) định nghĩa: “Khoa học là một thiết chế xã hội” (Nguyễn Khắc Viện gọi là thể chế xã hội). Định nghĩa này dựa trên nghiên cứu của một nhà nghiên cứu lịch sử khoa học người Mỹ, D. Qua các từ điển được tra cứu, chúng ta thấy, về cơ bản có 4 định nghĩa về khoa học dựa trên 4 cách tiếp cận sau: - Khoa học là một hệ thống tri thức - Khoa học là một hoạt động sản xuất tri thức - Khoa học là một hình thái ý thức xã hội - Khoa học là một thiết chế xã hội.
13 Cả 4 khái niệm này đều có chỗ đứng trong tư duy và hành động của cộng đồng những người làm nghiên cứu và quản lý khoa học. 2 Theo Luật Khoa học và Công nghệ (2000), khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy. Cùng với sự phát triển của khoa học, con người ngày càng hiểu biết nhiều hơn, đầy đủ hơn, chính xác hơn về thế giới xung quanh, ngày càng sáng tạo ra các phương tiện mới có khả năng giúp con người đi sâu vào thế giới, tìm hiểu, khám phá, chinh phục và cải tạo nó vì lợi ích của con người. Trong khuôn khổ luận văn, tác giả thống nhất định nghĩa theo cách tiếp cận khoa học là một hoạt động sản xuất tri thức.
Khái niệm công nghệ: Cũng như khái niệm khoa học, mỗi lĩnh vực đều đưa ra khái niệm công nghệ riêng cùa mình. Có những khái niệm cho rằng bản chất của công nghệ là “kiến thức”, tuy nhiên chúng được thể hiện dước các cách khác nhau như dạng kiến thức, cách thức, tập hợp các kiến thức, nguồn lực bao gồm kiến thức, sự áp dụng khoa học. Bên cạnh đó, ngoài phần “kiến thức” được thể hiện qua dạng con người, thông tin còn nêu ra cả phần cứng như: thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất, vật thể (thiết bị, máy móc). Cụ thể là theo OECD (Organization for Economic Co-operation and Development) trong một khái niệm chung nhất đã tập trung vào các hành động và quy tắc như sau: “công nghệ được hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản thân chúng được khái niệm là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước (và đôi khi được kỳ vọng) trong hoàn cảnh cụ thể nhất định”.
Tóm lại, công nghệ có thể được hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu trữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép…) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư 2 Vũ Cao Đàm - Tạp chí Hoạt động Khoa học 8/2008 14 liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ…) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ. 3 Theo Luật Khoa học và Công nghệ (2000), công nghệ được hiểu một cách khái quát là “tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”. Theo Luật Chuyển giao công nghệ (2006), công nghệ là “giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”. Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả thống nhất định nghĩa công nghệ theo Luật Khoa học và Công nghệ (2000).
Khái niệm hoạt động KH&CN: Theo Luật Khoa học và Công nghệ (2000): “Hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ”. Hoạt động KH&CN là khái niệm được UNESCO sử dụng để chỉ những hoạt động xã hội được thực hiện bởi một bộ phận xã hội rộng lớn (các nhà khoa học, các nhà công nghệ) có liên quan đến việc thực hiện công tác nghiên cứu khoa học và CGCN, phát triển KH&CN. Mục tiêu của hoạt động KH&CN: Mục tiêu của hoạt động KH&CN là xây dựng nền KH&CN tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người mới, góp phần phát triển nhanh, bền vững kinh tế, xã 3 Tài liệu môn học Quản lý và đổi mới công nghệ 15 hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Nhiệm vụ của hoạt động KH&CN: Nhiệm vụ chủ yếu của hoạt động KH&CN là: - Nghiên cứu những vấn đề lý luận và vận dụng vào thực tế khoa học về xã hội và nhân văn để xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách, pháp luật và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần làm giàu kho tàng văn hoá khoa học của thế giới; - Nâng cao năng lực khoa học và công nghệ để làm chủ và sáng tạo công nghệ; - Tiếp thu các thành tựu khoa học và công nghệ và thực hiện CGCN tạo ra sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao.
Nguyên tắc hoạt động KH&CN: - Hoạt động KH&CN phải phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh; - Xây dựng và phát huy năng lực nội sinh về KH&CN của đất nước, tiếp thu có chọn lọc các thành tựu KH&CN của thế giới phù hợp với thực tiễn của đất nước; - Kết hợp chặt chẽ khoa học tự nhiên, KHKT và công nghệ với khoa học xã hội và nhân văn, gắn khoa học với công nghệ và công nghệ với giáo dục và đào tạo; - Phát huy khả năng lao động và sáng tạo của mọi tổ chức, cá nhân; - Trung thực, khách quan đề cao đạo đức nghề nghiệp, tự do sáng tạo, dân chủ, tự chủ. 16 Hoạt động KH&CN Dịch vụ KH&CN Nghiên cứu KH Chuyển giao CN (R&D) NC ứng dụng NC cơ bản Triển khai CN NCCB NCCB định thuần tuý hướng NC nền tảng NC chuyên đề (ĐTCB) Hình 1.1: Hoạt động KH&CN – cơ sở để phân loại tổ chức KH&CN 1. Sản xuất thử nghiệm: là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống. Dịch vụ khoa học và công nghệ: là các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức khoa học và công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn.
Tổ chức KH&CN: Tổ chức KH&CN là tổ chức được thành lập theo quy định của Luật KH&CN và pháp luật có liên quan để tiến hành hoạt động KH&CN. 4 Luật Khoa học và Công nghệ; 5 Luật Khoa học và Công nghệ 17 Theo giáo trình môn học Tổ chức KH&CN: có nhiều kiểu phân loại tổ chức KH&CN khác nhau tuỳ theo tiêu chí, mục tiêu đã định. Thông thường có một số phân loại sau: 1. Phân loại theo lĩnh vực KH&CN, có thể chia thành các loại sau: - Khoa học tự nhiên; - Khoa học kỹ thuật (công nghệ); - Khoa học xã hội và nhân văn; - Khoa học nông nghiệp; - Khoa học y dược học.