Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại" do nghiên cứu sinh Đoàn Thị Hạnh thực hiện tại Trường Đại học Vinh vào năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Đăng Điệp, thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 9 22 01 21).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Từ mốc lịch sử Đổi mới năm 1986, văn học nghệ thuật Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng đã trải qua những chuyển biến sâu sắc về tư duy nghệ thuật, đề tài và phương thức biểu hiện. Sau 35 năm đổi mới, nền thơ đương đại từng bước hiện đại hóa, xuất hiện nhiều khuynh hướng, trường phái và thể nghiệm thẩm mỹ nhằm tìm kiếm tinh thần dân chủ và đa dạng hóa tiếng nói nghệ thuật. Trong tiến trình vận động đó, khuynh hướng hiện sinh nổi lên như một hiện tượng thẩm mỹ mang lại nhiều sáng tạo về cảm quan đời sống, nhận thức bản thể con người và kỹ thuật viết.
Chủ nghĩa hiện sinh vốn là một trào lưu triết học lớn của phương Tây thế kỷ XX (tiêu biểu với các tên tuổi như Jean-Paul Sartre, Albert Camus, Martin Heidegger, Søren Kierkegaard, Friedrich Nietzsche). Khi lan tỏa vào Việt Nam, các chủ đề cốt lõi như bản thể, sự phi lý, nỗi cô đơn, cảm giác buồn nôn, tính dục, sự tha hóa và nỗi âu lo về cái chết đã được khúc xạ vào sáng tác văn học. Trong thực tế tiếp nhận tại Việt Nam, các đánh giá về chủ nghĩa hiện sinh và khuynh hướng hiện sinh trong thơ ca đương đại vẫn tồn tại nhiều nhận định trái chiều: một số ý kiến phê phán gay gắt, một số cổ súy, số khác giữ thái độ dè dặt, cẩn trọng. Mặt khác, phần lớn các công trình trước đây chỉ khảo sát chủ nghĩa hiện sinh ở bình diện triết học thuần túy, ở văn học miền Nam giai đoạn 1954–1975, hoặc ở thể loại văn xuôi sau năm 1986. Do đó, việc nghiên cứu chuyên biệt, hệ thống và bao quát khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại từ góc nhìn thi pháp học và văn hóa học là một yêu cầu khoa học cấp thiết nhằm xác định rõ diện mạo và quy luật vận động của nền thơ dân tộc.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là thông qua việc khảo sát các yếu tố hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại để xác định sự hiện diện của khuynh hướng hiện sinh với các đặc điểm nội dung và hình thức mang ý nghĩa xã hội – thẩm mỹ riêng biệt, từ đó khẳng định những đóng góp của khuynh hướng này đối với sự phát triển của thơ ca Việt Nam thời kỳ đổi mới.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Khái quát, đánh giá khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại và xác lập cơ sở lý thuyết cho việc thực hiện đề tài.
- Bao quát thơ Việt Nam từ năm 1986 đến nay, phân loại các khuynh hướng và nhận diện khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại.
- Khảo sát, phân tích, làm rõ những đặc điểm của khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại trên phương diện nội dung biểu hiện.
- Khảo sát, phân tích, khái quát những đặc điểm của khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại trên phương diện nghệ thuật tổ chức ngôn từ, từ đó rút ra các kết luận về vai trò và ý nghĩa xã hội – thẩm mỹ của khuynh hướng này.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại.
- Phạm vi thời gian: Các tác phẩm thơ Việt Nam xuất bản từ cột mốc Đổi mới năm 1986 đến thời điểm thực hiện luận án (2022).
- Phạm vi tư liệu và tác giả khảo sát: Mảng thơ ca mang cảm hứng hiện sinh với các tác giả tiêu biểu được khảo sát gồm: Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Trương Đăng Dung, Inrasara, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Phạm Thị Ngọc Liên, Đoàn Thị Lam Luyến, Phan Huyền Thư.
| Tiêu chí |
Nội dung xác lập trong luận án |
| Tên đề tài |
Khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại |
| Cấp đào tạo / Chuyên ngành |
Luận án Tiến sĩ Văn học / Văn học Việt Nam (Mã số: 9 22 01 21) |
| Cơ sở đào tạo / Năm bảo vệ |
Trường Đại học Vinh / Năm 2022 |
| Người hướng dẫn khoa học |
PGS. Nguyễn Đăng Điệp |
| Phạm vi thời gian văn bản |
Thơ Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2022 |
| Loại hình tiếp cận |
Nghiên cứu định tính kết hợp liên ngành (Thi pháp học, Văn hóa học, Phân tâm học) |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại
Luận án đã tiến hành tổng thuật lịch sử nghiên cứu một cách công phu theo hai trục chính: nghiên cứu lý thuyết triết học hiện sinh cùng sự du nhập của nó vào Việt Nam, và nghiên cứu biểu hiện của tư tưởng hiện sinh trong văn học Việt Nam.
Thứ nhất, về việc giới thiệu chủ nghĩa hiện sinh và sự tiếp nhận lý thuyết tại Việt Nam:
- Giai đoạn 1954–1975 tại miền Nam Việt Nam: Tác giả điểm lại các công trình nghiên cứu và dịch thuật tiên phong. Trần Thái Đỉnh với chuyên luận Triết học hiện sinh (1961–1962) đã hệ thống hóa các quan niệm về con người nhân vị độc đáo từ Socrate, Pascal, Kierkegaard, Nietzsche đến Heidegger, Sartre, Jaspers, Marcel. Huỳnh Như Phương trong Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam 1954 - 1975 (trên bình diện lý thuyết) đã phục dựng diễn trình du nhập và tầm ảnh hưởng sâu rộng của trào lưu này trên các tạp chí như Đại học, Sáng tạo, Văn, Bách khoa. Dịch giả Thụ Nhân dịch tác phẩm của Jean-Paul Sartre thành sách Hiện sinh - một nhân bản thuyết (Sài Gòn, 1965). Bên cạnh đó, luận án ghi nhận đóng góp truyền bá của các học giả như Nguyễn Văn Trung, Phạm Công Thiện, Ngô Trọng Anh, Lê Tôn Nghiêm, Lê Thành Trị.
- Giai đoạn sau năm 1986: Các công trình nghiên cứu và dịch thuật mang tính hàn lâm xuất hiện trở lại ở quy mô chuyên khảo. Phạm Văn Sĩ trong Về tư tưởng và văn học phương Tây hiện đại (1986) dành trọn chương ba bàn về chủ nghĩa hiện sinh và tính chủ thể cá nhân. Nguyễn Hào Hải với Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại (2001) phân tích cơ sở bản thể luận và hiện tượng luận của Husserl. Trần Thiện Đạo xuất bản Chủ nghĩa hiện sinh & Thuyết cấu trúc (2001), phân tích mệnh đề cốt lõi của Sartre "hiện sinh có trước bản chất". Ngoài ra, luận án tham chiếu công trình dịch thuật Chủ nghĩa hiện sinh của Jacques Colette (Hoàng Thạch dịch, 2011), Giáo trình hướng tới thế kỷ XXI - Triết học phương Tây hiện đại của Lưu Phóng Đồng, và bài tiểu luận tổng thuật Đôi nét về chủ nghĩa hiện sinh của Gordon E. Bigelow (Cao Hùng Lynh dịch).
Thứ hai, về nghiên cứu tư tưởng hiện sinh trong sáng tác văn học Việt Nam:
- Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Dũng trong công trình Chủ nghĩa hiện sinh, lịch sử và sự hiện diện của nó ở Việt Nam khẳng định các nhà văn Việt Nam đưa các ý tưởng hiện sinh vào tác phẩm một cách tự nhiên chứ không xây dựng một hệ thống triết học thuần túy.
- Các khảo cứu chỉ ra dấu ấn hiện sinh trong văn xuôi sau năm 1986 qua các nhân vật và chủ đề cụ thể: sự đánh mất bản ngã của Giang Minh Sài trong Thời xa vắng (Lê Lựu); nỗi cô đơn lạc lõng của Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh); những trăn trở về thời gian hữu hạn và sự vận hành hướng về cái chết trong Một cõi nhân gian bé tí (Nguyễn Khải) và Những đứa trẻ chết già (Nguyễn Bình Phương); cảm thức về tính phi lý của đời người trong Một ngày và một đời (Lê Văn Thảo).
- Trong lĩnh vực thi ca: Các công trình của Nguyễn Đăng Điệp (Thơ Việt Nam sau 1975 - một cái nhìn toàn cảnh), Nguyễn Thanh Tâm (Loại hình học thơ...), Trần Đình Sử, Đỗ Đức Hiểu, Lê Công Sự đã phân tích những chuyển biến từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng nhân bản, đời tư, sự thức tỉnh ý thức cá nhân và nhu cầu giải phóng cái tôi.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù chủ nghĩa hiện sinh đã được khảo sát ở miền Nam giai đoạn trước 1975 và trong văn xuôi đổi mới sau 1986, nhưng ở thể loại thơ ca, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, độc lập và có hệ thống về sự tồn tại của một "khuynh hướng hiện sinh" trong thơ Việt Nam đương đại. Luận án của Đoàn Thị Hạnh lựa chọn lấp đầy khoảng trống này bằng việc xác định các tiền đề lịch sử - xã hội, định vị khuynh hướng hiện sinh trong bức tranh thơ sau 1986, và làm rõ các đặc trưng cơ bản trên cả hai bình diện: nội dung biểu hiện và hình thức nghệ thuật.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
Luận án xây dựng một khung lý thuyết đa diện, mang tính liên ngành nhằm soi tỏ các hiện tượng thơ ca:
- Lý thuyết Triết học hiện sinh:
- Bản thể luận và nhân vị luận: Xem con người là Dasein (M. Heidegger) – tồn tại thực tồn bị "ném vào thế giới"; mệnh đề "hiện sinh có trước bản chất" (l'existence précède l'essence) của Jean-Paul Sartre, khẳng định con người tự kiến tạo bản thân qua hành động và sự lựa chọn tự do.
- Sáu đặc trưng của trào lưu hiện sinh theo tổng kết của Gordon E. Bigelow: (1) Hiện sinh có trước bản chất; (2) Lý trí bất lực khi đề cập đến chiều sâu đời sống con người; (3) Sự xung khắc với đấng tối cao hay niềm tin ("Thượng đế đã chết" - F. Nietzsche); (4) Cảm giác run sợ và âu lo (S. Kierkegaard); (5) Đối diện với hư vô; (6) Lý tưởng tự do và dấn thân.
- Các phạm trù hiện sinh cốt lõi: cái bản thể, nỗi cô đơn, sự phi lý (absurdité - A. Camus), cảm giác buồn nôn (nausée - J.-P. Sartre), tính tha hóa, thân phận lưu đày và cái chết.
- Lý thuyết Phân tâm học: Vận dụng các khái niệm của Sigmund Freud về vô thức (unconscious), mặc cảm, tính dục (sexuality), cái tôi (ego), siêu tôi (super-ego). Đặc biệt, luận án kết hợp quan niệm "phân tâm học hiện sinh" (existential psychoanalysis) của J.-P. Sartre (từng áp dụng trong các chuyên luận về Baudelaire và Saint Genet) để nhìn nhận sự tương tác giữa ham muốn bản năng và hoàn cảnh hiện sinh cụ thể của chủ thể sáng tạo.
- Lý thuyết Liên văn bản: Dựa trên quan niệm tiếp nhận văn học của Karl Mannheim và Hans Robert Jauss về "tầm đón nhận", kết hợp các nghiên cứu của học giả trong nước (Nguyễn Văn Hạnh, Trần Đình Sử, Phương Lựu, Trương Đăng Dung) để giải mã sự tương tác giữa tác phẩm thơ với các diễn ngôn triết học phương Tây và bối cảnh đương đại.
- Lý thuyết Loại hình học và Khuynh hướng thơ: Vận dụng quan điểm của Nguyễn Thanh Tâm về quy luật loại hình nhằm phát hiện tính nhất dạng trong sự phong phú của các hiện tượng thơ ca, xác định sự hình thành của khuynh hướng thơ như một xu thế thẩm mỹ bắt nguồn từ sự vận động xã hội.
- Thi pháp học hiện đại: Vận dụng bốn phạm trù then chốt do Trần Đình Sử và các nhà nghiên cứu thi pháp xác lập: (1) Quan niệm nghệ thuật về con người; (2) Thời gian nghệ thuật; (3) Không gian nghệ thuật; (4) Cấu trúc chỉnh thể của tác phẩm văn học.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận định tính đặc thù của khoa học ngữ văn, không áp dụng các công cụ tính toán thống kê hay định lượng số học. Các phương pháp nghiên cứu chính bao gồm:
- Phương pháp lịch sử: Đặt thơ Việt Nam đương đại trong tiến trình lịch sử – văn hóa sau năm 1986 để theo dõi diễn tiến du nhập, tái xuất hiện và vận động của tư tưởng hiện sinh.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích chi tiết các văn bản thơ, hệ thống hình ảnh, biểu tượng và cấu trúc tác phẩm, sau đó tổng hợp thành các luận điểm khái quát về đặc điểm khuynh hướng.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối chiếu cảm thức hiện sinh của các nhà thơ trên cả trục đồng đại (giữa các tác giả cùng thời) và trục lịch đại (so sánh với thơ ca các giai đoạn trước 1975 và 1975–1985).
- Phương pháp loại hình: Nhận diện và phân loại các hiện tượng thơ ca dựa trên đặc trưng loại hình tư tưởng và loại hình thể loại.
- Phương pháp liên ngành: Tích hợp tri thức từ văn hóa học, triết học, phân tâm học và ngôn ngữ học để lý giải tầng sâu tư tưởng của tác phẩm.
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Khảo sát tác phẩm thơ như một chỉnh thể thống nhất giữa nội dung cảm xúc và tổ chức nghệ thuật ngôn từ.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm các tập thơ tiêu biểu xuất bản từ năm 1986 đến năm 2022 của các tác giả thuộc diện khảo sát: Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Trương Đăng Dung, Inrasara, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Phạm Thị Ngọc Liên, Đoàn Thị Lam Luyến, Phan Huyền Thư. Cùng với đó là hệ thống tư liệu lý luận, văn bản triết học, tạp chí học thuật và các công trình nghiên cứu văn học có liên quan trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài
Chương 1 tập trung hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh và xác lập nền tảng lý luận cho toàn bộ luận án. Tác giả chỉ ra rằng chủ nghĩa hiện sinh ra đời từ những cuộc khủng hoảng xã hội phương Tây thế kỷ XX, coi con người là trung tâm của tồn tại luận và lý giải cuộc sống qua trải nghiệm cá nhân chứ không qua các tín điều duy lý trừu tượng.
Về diễn trình tại Việt Nam, luận án làm rõ hai mốc tiếp nhận: giai đoạn 1954–1975 ở miền Nam với phong trào dịch thuật, giới thiệu rầm rộ qua các công trình của Trần Thái Đỉnh, Huỳnh Như Phương, Nguyễn Văn Trung; và giai đoạn sau 1986 trên phạm vi cả nước với các công trình chuyên khảo của Phạm Văn Sĩ, Nguyễn Hào Hải, Trần Thiện Đạo, Jacques Colette. Luận án nhấn mạnh rằng khi tiếp nhận hiện sinh, các nhà văn, nhà thơ Việt Nam không đóng vai trò những triết gia hiện sinh thuần túy kiến tạo hệ thống lý thuyết, mà họ vận dụng các ý tưởng hiện sinh như một cảm quan thẩm mỹ mới để nhận thức lại hiện thực và thân phận con người.
Phần cơ sở lý thuyết xác lập sự kết hợp chặt chẽ giữa triết học hiện sinh (với 6 đặc trưng theo tổng kết của Gordon E. Bigelow), lý thuyết phân tâm học của Freud và Sartre, lý thuyết tiếp nhận - liên văn bản, lý thuyết loại hình - khuynh hướng thơ, cùng hệ thống các phạm trù thi pháp học hiện đại (quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, cấu trúc tác phẩm). Tiểu kết chương 1 khẳng định sự cần thiết và tính khả thi của việc sử dụng khung lý thuyết này để nhận diện một khuynh hướng thơ độc lập.
Chương 2: Nhận diện khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại
Chương 2 phác họa bức tranh toàn cảnh của thơ ca Việt Nam thời kỳ đổi mới và xác định các tiền đề cho sự hình thành khuynh hướng hiện sinh. Tác giả phân tích những tác động toàn diện của Nghị quyết Đại hội VI của Đảng (12/1986), sự chuyển đổi từ cơ chế quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường, quá trình hội nhập quốc tế và sự phát triển của công nghệ thông tin. Mặt trái của kinh tế thị trường (khoảng cách giàu nghèo, sự ích kỷ cá nhân, sự tha hóa đạo đức) cùng nhịp sống công nghiệp đã đẩy con người vào tâm trạng cô đơn, bất an, từ đó tạo mảnh đất xã hội cho tư tưởng hiện sinh trỗi dậy.
Dựa trên các nghiên cứu của Nguyễn Đăng Điệp, luận án chỉ ra sự chuyển dịch của tư duy thơ sau 1975 từ cái nhìn sử thi - lãng mạn sang cảm hứng nhân bản, đời tư - thế sự. Thơ ca quan tâm nhiều hơn đến những bi kịch, mất mát và số phận cá nhân con người đời thường. Luận án phân tích sự xuất hiện của khuynh hướng hiện sinh như một quy luật vận động tự thân của thơ ca dân tộc nhằm đáp ứng nhu cầu giải phóng cái tôi, mở rộng biên độ biểu đạt thẩm mỹ. Luận án khẳng định khuynh hướng hiện sinh không hề mang tính "tiêu cực" hay "bế tắc" như một số định kiến trước đây, mà là một nỗ lực nhân văn sâu sắc nhằm nhận thức bản thể, khẳng định vị thế bình đẳng của cá nhân trong đời sống đương đại.
Chương 3: Những đặc điểm cơ bản của khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại nhìn từ nội dung biểu hiện
Chương 3 đi sâu khảo sát các bình diện nội dung cốt lõi của khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam sau 1986 qua ba phương diện chính:
- Ý thức biểu đạt cái tôi theo hướng hiện sinh:
- Thơ đương đại chứng kiến sự thức tỉnh mạnh mẽ của cái tôi cá thể thay thế cho cái tôi tập thể, đại chúng thời kỳ trước. Cái tôi hiện sinh trong thơ biểu hiện qua sự tự ý thức về tính độc bản, tính duy nhất của nhân vị, dám sống thực với cảm xúc của chính mình.
- Các dạng thái cái tôi nổi bật: cái tôi cô đơn bản thể giữa đám đông nhân quần; cái tôi phản tư, tự quy chiếu và không ngừng tra vấn về nguồn gốc và vị trí tồn tại của mình trong thế giới.
- Cảm nhận về con người theo hướng hiện sinh:
- Con người sinh thể: Thơ ca không còn né tránh mà trực tiếp biểu đạt con người với đầy đủ nhu cầu sinh học, khát vọng trần thế, bản năng và tính dục (thể hiện rõ qua thơ Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Đoàn Thị Lam Luyến).
- Con người khát khao tự do, dấn thân và những giới hạn, bất khả: Con người nỗ lực hành động, dấn thân để khẳng định ý nghĩa tồn tại nhưng luôn phải đối mặt với những nghịch lý, rào cản và tình thế bất khả của hoàn cảnh sống.
- Con người thân phận: Con người bị bủa vây bởi nỗi buồn đau, âu lo về số kiếp, cảm giác bị lưu đày trong chính thực tại, nỗi cô đơn vĩnh viễn và dự cảm thường trực về cái chết hữu hạn.
- Quan niệm về thời gian “tồn tại” của con người hiện sinh:
- Sự cảm nhận sâu sắc về tính mong manh, ngắn ngủi và hữu hạn của kiếp người; thời gian được đo bằng sự biến dịch nội tâm và bước đi của cái chết.
- Mối quan hệ giữa ba chiều thời gian: quá khứ – hiện tại – tương lai bị phân mảnh, nhuốm màu mịt mờ, bất khả tri. Con người hiện sinh không thể níu giữ quá khứ, hoài nghi tương lai và chỉ có thể bám víu vào từng khoảnh khắc của hiện tại đang hiện hữu.
Chương 4: Những đặc điểm chính của khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại nhìn từ hình thức nghệ thuật
Chương 4 phân tích các phương thức nghệ thuật thể hiện cảm quan hiện sinh trong thơ ca:
- Bút pháp, thể thơ và cách tổ chức bài thơ:
- Sự tương hợp hữu cơ giữa nội dung hiện sinh và hình thức biểu hiện: các quy phạm thi luật cổ điển và niêm luật chặt chẽ bị phá vỡ để nhường chỗ cho các thể thơ tự do, thơ không vần, thơ văn xuôi.
- Tổ chức bài thơ theo mạch cảm xúc phân mảnh, liên tưởng tự do, dòng tâm trạng và kỹ thuật lắp ghép đa chiều, phản ánh thế giới nội tâm phức tạp, đầy xáo trộn của con người hiện đại.
- Các sắc thái giọng điệu trữ tình hiện sinh nổi bật:
- Giọng điệu chán chường - sầu muộn: Thể hiện sự mệt mỏi, bất an, cảm giác "buồn nôn" trước sự lặp lại đơn điệu, vô vị của cuộc sống thường nhật.
- Giọng hoài nghi - cật vấn: Giọng điệu của những câu hỏi truy vấn không lời đáp hướng vào bản thể, xã hội và tha nhân ("Tôi là ai?", "Tồn tại để làm gì?").
- Giọng triết lý - tư biện: Thể hiện tư duy chiêm nghiệm trầm tĩnh, sâu lắng về các quy luật nhân sinh, ranh giới giữa cái sống và cái chết, ánh sáng và bóng tối (đặc biệt đậm nét trong thơ Trương Đăng Dung, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn).
- Ngôn ngữ và nghệ thuật tổ chức ngôn ngữ:
- Ngôn ngữ mang đậm màu sắc hiện sinh: Sử dụng dày đặc hệ thống từ vựng chỉ trạng thái bản thể: hư vô, phi lý, cô đơn, bóng tối, vực thẳm, vết thương, âu lo, tha hóa, tro tàn, sự chết...
- Nghệ thuật tổ chức ngôn từ biểu tượng hàm ý hiện sinh: Xây dựng các biểu tượng nghệ thuật đa tầng mang tính ẩn dụ cao nhằm biểu đạt thế giới vô thức và những ẩn ức hiện sinh của con người trong thời đại mới.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về lý luận và thực tiễn của luận án
Theo phần tự công bố của luận án, công trình mang lại các đóng góp cụ thể sau:
- Luận án là công trình nghiên cứu chuyên biệt, tập trung và hệ thống đầu tiên về khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại (từ 1986 đến nay) với tư cách là một vấn đề khoa học độc lập.
- Thông qua việc diễn giải các luận điểm đặc trưng của triết học hiện sinh, luận án đã đưa ra những nhận xét khách quan, khoa học về quá trình tiếp nhận và vận dụng hiện sinh luận tại Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua.
- Luận án xác định và nhận diện khuynh hướng hiện sinh trong thơ đương đại bằng hệ thống phương pháp nghiên cứu văn hóa học và thi pháp học thích hợp, tránh được lối phê phán giáo điều hoặc suy diễn chủ quan.
- Luận án khẳng định một cách có căn cứ khoa học sự xuất hiện và hiện diện của khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại như một dấu mốc đổi mới của nền thơ ca, đồng thời phân tích toàn diện diện mạo và đặc trưng của khuynh hướng này trên cả hai phương diện: nội dung biểu hiện và nghệ thuật tổ chức ngôn từ.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Về nghiên cứu học thuật: Đề xuất giới nghiên cứu tiếp tục mở rộng góc nhìn liên ngành (kết hợp thi pháp học với triết học, phân tâm học và văn hóa học) khi tiếp cận các hiện tượng văn học đương đại có tính phức tạp.
- Về ứng dụng thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trực tiếp cho công tác nghiên cứu chuyên sâu về văn học Việt Nam sau 1975, đồng thời vận dụng vào việc giảng dạy và học tập phân môn Ngữ văn, văn học đương đại ở bậc đại học và sau đại học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Luận án tập trung khảo sát chủ yếu các sáng tác thơ từ mốc Đổi mới năm 1986 đến nay của một nhóm tác giả tiêu biểu (Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Trương Đăng Dung, Inrasara, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Phan Huyền Thư, Đoàn Thị Lam Luyến...), do đó chưa thể bao quát hết toàn bộ các hiện tượng thơ thể nghiệm mới mẻ xuất hiện rải rác trên các diễn đàn văn học mạng hoặc các cây bút trẻ mới xuất hiện trong vài năm gần đây.
- Do tính chất phức tạp, đa nhánh của triết học hiện sinh (nhánh hữu thần và vô thần) cùng tính đa nghĩa của ngôn từ thơ ca, việc phân định ranh giới giữa cảm quan hiện sinh thuần túy với các cảm quan nghệ thuật hậu hiện đại khác trong một số văn bản thơ cụ thể vẫn là một thách thức đối với thao tác phân loại.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu để so sánh đối chiếu khuynh hướng hiện sinh trong thơ ca với các thể loại văn học khác (tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản sân khấu) trong cùng thời kỳ đổi mới.
- Nghiên cứu so sánh khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại với thơ ca của một số quốc gia châu Á có hoàn cảnh văn hóa - lịch sử tương đồng (như Nhật Bản, Hàn Quốc) để làm rõ hơn các quy luật tiếp biến văn hóa Đông - Tây.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng trong nghiên cứu và đào tạo:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngữ văn: Luận án cung cấp một mô hình nghiên cứu kết hợp giữa thi pháp học và triết học văn hóa; phần tổng quan tài liệu (Chương 1) là nguồn tham khảo phong phú về lịch sử tiếp nhận chủ nghĩa hiện sinh tại Việt Nam qua hai thời kỳ (trước và sau 1975).
- Đối với giảng viên đại học: Cung cấp khung tri thức và hệ thống dẫn chứng cụ thể phục vụ cho việc giảng dạy các học phần Văn học Việt Nam hiện đại, Văn học đương đại, Thi pháp học và Lý luận văn học.
- Đối với các nhà phê bình văn học: Cung cấp hệ thống tiêu chí nhận diện rõ ràng về cái tôi hiện sinh, con người sinh thể, giọng điệu triết lý - tư biện và ngôn ngữ biểu tượng, giúp cho việc giải mã và đánh giá các tác giả thơ cách tân đương đại (như thơ Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Trương Đăng Dung) trở nên khách quan, thấu đáo hơn.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định mốc thời gian và không gian tư liệu khảo sát là giai đoạn nào?
Luận án khảo sát các tác phẩm thơ Việt Nam đương đại ra đời từ công cuộc Đổi mới năm 1986 cho đến năm 2022, tập trung vào mảng tác phẩm của các tác giả tiêu biểu như Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Trương Đăng Dung, Inrasara, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Phạm Thị Ngọc Liên, Đoàn Thị Lam Luyến, Phan Huyền Thư.
2. Các nhà thơ Việt Nam đương đại có phải là những nhà triết học hiện sinh hay không?
Không. Dựa trên nhận định của Nguyễn Tiến Dũng, luận án khẳng định các nhà văn, nhà thơ Việt Nam đương đại không phải là các nhà tư tưởng triết học hiện sinh xây dựng một hệ thống lý thuyết chặt chẽ. Họ chỉ là những người sáng tạo tiếp thu một số ý tưởng, cảm quan hiện sinh để đưa vào tác phẩm nhằm suy ngẫm sâu sắc hơn về hiện thực và thân phận con người. Do đó, yếu tố hiện sinh có thể xuất hiện đậm nhạt khác nhau tùy từng tác giả và tác phẩm.
3. Khung lý thuyết của luận án tiếp thu những đặc trưng cơ bản nào của chủ nghĩa hiện sinh?
Luận án tiếp thu 6 đặc trưng tổng quát của chủ nghĩa hiện sinh theo tổng kết của học giả Gordon E. Bigelow: (1) Hiện sinh có trước bản chất; (2) Sự bất lực của lý trí trước chiều sâu đời sống; (3) Sự xung khắc với đấng tối cao hay niềm tin; (4) Cảm giác run sợ và âu lo; (5) Đối diện với hư vô; (6) Lý tưởng tự do và dấn thân.
4. Ba sắc thái giọng điệu trữ tình hiện sinh nổi bật được phân tích trong Chương 4 là gì?
Ba sắc thái giọng điệu chính gồm: giọng điệu chán chường – sầu muộn (phản ánh nỗi bất an, vô vị trước đời sống thường nhật); giọng hoài nghi – cật vấn (liên tục cất lên các câu hỏi tra vấn bản thể và hoàn cảnh); và giọng triết lý – tư biện (thể hiện sự chiêm nghiệm sâu lắng về quy luật tồn sinh và cái chết).
5. Luận án sử dụng phương pháp định tính hay định lượng?
Luận án thuần túy sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính trong văn học kết hợp liên ngành (lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh - đối chiếu, loại hình, liên ngành văn hóa - triết học - tâm lý học, cấu trúc - hệ thống) và không sử dụng các phương pháp định lượng thống kê.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Đoàn Thị Hạnh là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống và bao quát về khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại từ năm 1986 đến nay. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu thi pháp học với triết học hiện sinh và phân tâm học, tác giả đã chứng minh sự hiện diện khách quan của khuynh hướng này như một nhu cầu tự thân của tiến trình hiện đại hóa thơ ca dân tộc trong bối cảnh Đổi mới và hội nhập. Luận án đã làm sáng tỏ diện mạo của khuynh hướng hiện sinh trên cả phương diện nội dung biểu hiện (sự thức tỉnh cái tôi bản thể, con người sinh thể, tự do dấn thân và thời gian hữu hạn) lẫn sự cách tân hình thức nghệ thuật (thể thơ, cấu trúc, giọng điệu và ngôn ngữ biểu tượng). Công trình đã mang lại những luận cứ khoa học tin cậy, góp phần đánh giá công bằng và xác đáng những đóng góp nghệ thuật của các nhà thơ đương đại đối với nền văn học Việt Nam.