chương I, trang 1)[193]. Nguyệt Xứng (H8, khoảng thế kỷ VI-VII) vị luận sư quan trọng nhất ngay sau Long Thọ, đã chú ý tới 7rung Quán Luận. Các trước tác quan trọng cua ông là Minh Cú Luận (BÄJÄÑ, còn nguyên bản Phạn ngữ), gọi đủ là Trung quán mình cú luận (madhyamakavrtti-prasannapađä), ông đã chú giải chú thích rõ ràng về Trung đạo như là một thực thể Không.Murti viết trong Tính Không cốt tủy triết học Phật giáo, mà Huỳnh Ngọc Chiến dịch (2012), ông đã cho rằng Tính Không là cốt tủy của giáo lý Phật giáo, cũng là triết lý, là tư tưởng vô ngã, vô chấp, song nó nhắc nhở con người cần sống có niềm tin tâm linh trong cuộc sống hiện nay, mà nguyên lý Tính Không có vai trò thiết yêu. Tác phẩm có đoạn viết: "Tánh Không (sunyata) thâm diệu sẽ là nền tảng cho sự phục sinh tâm linh thế giới”.
Đây là một nhận 18 định quan trọng để chứng minh cho tư tưởng nguyên lý Tính Không của Long Thọ là chân Không, không ngoan không mà diệu hữu [175, tr. Theo đánh giá của P.Raju, trong "/dealistic Thought of India", thi tac giả của Trung Quán Luận này là "một nhà biện chứng độc nhất vô nhị trên thế giới” [142, tr. Có thé thay, Trung Quán Luận rất được quan tâm bởi các học giả cả Đông, cả Tây. Tác phẩm Triết học có và không của phật giáo Ấn Độ (2007) của Thích Hạnh Bình, nhà xuất bản phương Đông đã giải thích và phân tích được phần nào giáo nghĩa “không” theo tư tưởng Duyên khởi của Phật giáo Đại thừa [6].
Trong cuốn Phát học phố thông (2008), quyền 3, tái bản lần thứ tư của Thích Thiện Hoa đã bàn tới Kinh Kim Cương với tư tưởng Không: không nên trụ chấp vào một nơi nào “ưng vô sở trụ nhỉ sinh ky tâm”. Trong kinh này còn nói tới giáo pháp của Phật như chiếc bè đưa người qua bé khổ, người sang để lại bè. Cũng vậy, chúng sinh không được chấp vào chính pháp huống chỉ là phi pháp. Chấp chính pháp và phi pháp không khác gì chấp vào Hữu và Vô trong Trưng Quán Luận.
Đây là biện chứng pháp phú định được Long Thọ tiếp thu để triển khai tư tưởng nguyên lý Tính Không trong 7rung Quán Luận [72. Phật học Từ Điển (2008) của Đoàn Trung Còn, nhà xuất bản Tổng hop, thành phố Hồ Chí Minh giải thích khái lược về ý nghĩa Trung quán là quán sát lý Không theo Duyên khởi Phật giáo[ 19]. Trong bài viết Quan niệm về Tỉnh Không (sunyata) trong Kinh kim cương, (Tạp chí Triết học, số 1, 2011), Đoản Văn An đã khái quát được tinh thần cơ bản của Tính Không (Sunyata) trong Kinh Kim Cương. Đó là Không tự ngã, tức Không Bát Nhã, và có liên hệ với Tư tưởng Không của Trung Quán Luận.
Tuy nhiên, tác giả của bài báo này chỉ lướt qua tư tưởng Không trong 7rung Quán Luận đề làm nỗi bật quan niém Khong trong Kinh Kim Cuong [1, tr. Bài Lược thuật về pháp giới duyên khởi của Tông Hoa Nghiêm, (Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 1, 2013) Tác giả Thích Diễn Tuệ, dịch giả Quảng Lâm 19 đã nói rõ quy luật các pháp không tự sinh, không thể tự diệt mà các pháp phải dựa vào duyên sinh, tương hỗ lẫn nhau, nên gọi đó là Duyên khởi hay gọi là Duyên khởi Tính Không. Bài viết này, cho thấy tư tưởng biện chứng Chân như không rời sinh diệt, sinh diệt không rời Chân như, tuy hai mà là một. Do vậy, ta có thể thấy cái Duyên khởi Tính Không này liên hệ với nguyên lý Tính Không trong Trung Quán Luận [167].
Theo cuốn Triếr lý nhà Phật của Đoàn Trung Còn (2014) cho hay Long Thọ sinh và sống trong quá trình học đạo, tu đạo, hoằng pháp triết lý thuyết cao siêu, ngài là người sáng lập ra phái Trung Luận, thuộc tư tưởng Đại thừa, ngài luận thuyết cao siêu, đánh đỗ mọi học thuyết khác muốn phá hoại giáo lý của Phật Đà. Học phái Trung Luận lấy thuyết Không làm cốt lõi dé phát triển luận thuyết. Ngài thuộc đẳng cấp Bà La Môn, và hưởng thọ chừng sáu mươi tuổi. Theo Đoàn Trung Còn, Long Thọ sáng tác Trung Quán Luận nhằm giải thích quả vị tu chứng, quả vị Bồ Tát, khuyên mọi người tu tập hiểu giáo lý Không của Đại thừa mới có thể thoát khỏi khổ đau [20, tr.
Mới đây, bài “Để đọc hồi tránh luận của Long Thọ” (2015) của tác giả Vũ Thế Ngọc trong Tạp chí Suối Nguồn do Trung tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang ấn hành đã bàn về một số điều kiện cần biết dé hiéu Trung Quán Luận. Đó là phải sáng tỏ được tư tưởng Không và Tính Không. Theo Vũ Thế Ngọc, tác phẩm Hồi Tránh Luận và Trung Quán Luận là những tác phẩm xuất sắc của Long Thọ lý giải về thực thể các pháp vốn là Không: Không không có nghĩa là trồng rỗng, trồng không, rỗng lặng. Từ đó tác giả khẳng định: “Long Thọ đã luận về bản chất (tính) của vạn vật là Không, văn tắt là Tính Không.
Nói cách khác, vạn vật trồng không vì không có tự tính và không có tự ngã ”[112, tr. Vũ Thế Ngọc còn khẳng định rằng Bát bất là phương pháp phủ định, tám cái phủ định bằng từ Bắt làm cho nguyên lý Tính Không được hiện rõ: như không sinh, không diệt, bất thường bất đoạn., mọi sự hiện hữu không sinh từ chính nó, cũng không sinh từ cái khác nó, mà cần phải đủ nhân duyên thì sự vật mới có thể hiện hữu. Sự hiện hữu được như vậy là nhờ vào nguyên lý Tính Không diệu hữu. 20 * Tài liệu trực tiếp về nội dung nguyên lý Tính Không trong Trung Quán Luận Theo cuốn Trung Quán Kừmn Luận (Nay luận về Trung Quan) (FUL ft) của Ấn Thuận, Tục Minh ghi, Diệu Vân biên tập, gồm 2 tập.
Phần tựa của tập 2 giới thiệu ca ngợi Phật thuyết Duyên khởi, ca ngợi tư tưởng Tính Không của Long Tho, không có vật gì là không từ nhân duyên mà thành “duyên khởi, phàm thị duyên khởi đích, .tác dụng đích duyên khởi pháp” (trang 1 phần tựa: È1?). Ngoài ra, 7rung Quán Kim Luận còn giải thích nghĩa lý nội dung của Trung đạo là không trụ chấp vào pháp nào cả; kế tiếp giải thích về Không, duyên khởi tự Tính Không ở chương 5 tiết 3, tiết 4; giải thích chữ “bất” ở chương 6 tiết 2. Ấn Thuận còn liên hệ tới ý nghĩa nguyên lý Tính Không trong thuyết Duyên khởi của Phật [192]. Tác phẩm Luận giải Trung Luận Tính Khởi và Duyên khởi (2003) của Hồng Dương &Nguyễn Văn Hai, nhà xuất bản Tôn giáo đã cho rằng để hiểu được Trung Luận một cách nhất quán cần hiểu về Tánh Không (Tính Không) của Không, hay Không Không của Trung Luận, với bài tụng 7rung Luận XXIV.18 viết: Các pháp do duyên khởi, nên ta nói là Không, là giả danh, cũng chính là Trung đạo có nghĩa là sự vật do duyên sinh tức nói nó là Không, nghĩa là không có tự tính, không có quyết định tính.
Sự vật là không, tức nói nó sinh khởi hay hình thành do nhân duyên. Qua đó ta thấy cái diệu dụng của Không, là do duyên sinh thành ra vạn hữu [30, tr. Ở Việt Nam, Phật giáo truyền vào rất sớm khoảng đầu Công Nguyên nhưng việc dịch và nghiên cứu Trung Quán Luận diễn ra muộn hơn Trung Quốc và chủ yếu chỉ là từ các văn bản đã dịch sang tiếng Hán. Trung Luận của Thích Thanh Từ giảng giải (2008), nhà xuất bản tôn giáo, Hà Nội, phân tích được cái Không theo ba nghĩa: tức Không, quán tưởng Không, đương thể tức Không.
Ba cái Không hiểu như thế nhưng chỉ nhằm một mục đích giúp cho mọi người hiểu được sự Duyên sinh, vô ngã của sự vật hiện tượng trên thế gian này, từ đó tu tập được bình an[147, tr. Cuốn 7rung Luận giảng giải 21 của Thích Thanh Từ cho biết một số thông tin về văn bản: “Trung Luận tức Trung Quán Luận do Bồ Tát Long Thọ tạo, Bồ Tát Thanh Mục giải thích, Đời Diêu Tần, Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch Phạn — Hán, Hòa thượng Thích Thanh Từ Giảng giải”. Trung Quán Luận đã được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau giúp cho việc nghiên cứu nguyên lý Tính Không của Luận án thuận lợi hơn. Theo Trung Quán Luận tung gidng ky (PAARL), do An Thuan giảng, Diễn Bồi ghi, Diệu Vân kết tập thành 5 thiên, tập trung diễn giải tư tưởng các pháp đều là Không.
Nhờ đó mà các vấn nạn về Có - Không đã được giải đáp, theo tinh thần quy về Trưng Quán tức nguyên lý Tính Không. Ngoài ra tác giả còn khẳng định kết cấu của luận này gồm 565 trang, nội dung 27 phẩm, từ phẩm 1 Quán Nhân Duyên tới phâm 27 Quán Tà Kiến, tất cả đều dùng chung một từ “quán” nhằm giảng rõ ý nghĩa gốc ban đầu tư tưởng Không của giáo lý Phật giáo Nguyên thủy [194, tr. Đến nay đã có một số bản dịch, chú giải, đánh giá Trung Quán Luận như sau: Năm 2001, Chánh Tấn Tuệ đã dịch và giải thích Trung Quán Luận đã diễn bày được một phần nào cốt tuỷ của nguyên lý Tính Không cũng như mối tương quan giữa Tính Không và Duyên khởi của bộ luận này. Ông đã khẳng định qua Lời nói đầu rằng: “Ngộ được Tính Không tức hiểu được thực lý Duyên Khởi”.
Qua đó ta thấy Lý Duyên khởi và nguyên lý Tính Không có mối liên hệ mật thiết quan lại với nhau [145, tr. Trung Luận, do Thích Thiện Siêu (dịch và tóm tắt, 2001), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. Bản dịch này được dịch giả y theo bản gốc, ngoài ra còn nêu đại ý của Long Thọ muốn gửi gắm vào giáo pháp nhằm cảnh báo những ai cố chấp vào pháp sẽ khó có thể giác ngộ giải thoát [144]. Thích Quảng Liên dịch và giải thích (2007) Trung Quán Luận, (Nxb Tôn giáo) giúp cho người học, người nghiên cứu dễ hiểu hơn về giáo lý Phật cũng như tư tưởng Trung Quán Luận.
Dịch giả cũng đã khái quát sự hình thành tư tưởng nguyên lý Tính Không, và cũng tóm lược đại ý của từng phẩm, ví dụ như phẩm 22 18- Quán ngã pháp. đại ý “các pháp là vô ngã tức Không”. Thích Quảng Liên dịch và giải thích, đã làm rõ hơn sự phân biệt giữa “Chân Không Diệu Hữu” trong Trung quán Luận với cái “Không” theo nghĩa là hư vô, là không có gì mà thế gian thường hiểu [146]. Trung Luận, do Thích Thanh Từ giảng giải (2008) (Nxb Tôn giáo) đã phân tích được ba kiểu Không trong Phật giáo: - phân tích tức Không, - quán tưởng Không, - đương thé tức Không.
Lối dich và giải thích của thiền sư mềm mại dễ hiểu, đễ đi vào lòng người. Đặc biệt cho ta biết ba Không đó chúng đều là Không tu tinh ca[147].