phần mở đầu và kết thúc bài thơ như cánh cửa của toàn bài, mở ra và đóng lại nội dung sâu sắc mà nó cất giữ, chỉ những ai có chìa khóa của trái tim mới mở được. Với hai câu cuối: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”/ Lời cả nước ghi trên cánh cửa” cho thấy ý chí, quyết tâm và mục đích cuối cùng mà lịch sử, dân tộc hướng đến là tự do. Để đổi lấy điều đó, dân tộc và nhân dân Việt Nam phải chịu bao đau thương, bao mồ hôi, nước mắt và máu xương của những con người đã hòa tan vào đất mẹ, để chúng ta hôm nay thấy cờ đỏ sao vàng tung bay trong những sáng mai. Trong thơ mình Lệ Thu nói lên những nỗi đau mà bao người phải gánh chịu để đổi lấy tự do hôm nay: “Cho một ngày mai tươi sáng/ bao người Hà Nội trẻ trung đã lên đường/ xông pha nơi đạn bom mà không hề tính toán/ Họ chưa một lần được cùng người yêu ngồi ghế đá công viên – nơi mồ hôi mình đổ xuống/ Nhiều người giờ đã nằm yên dưới hàng ngàn bia mộ/ dõi theo hành động của từng người và đất nước đổi thay…” (Hà Nội trong ta).
Những lớp người của năm tháng ấy, họ hi sinh quá nhiều cả tình yêu, cả tuổi trẻ và cả tính mạng. Họ mãi mãi nằm lại những vùng miền hiu quạnh với đồng đội nhưng vẫn chưa bao giờ thôi nghĩ về đất nước. Họ vẫn ở đây trong từng nắm đất ngắm đất nước mình lớn lên. Bản 15 thân tác giả đã trải qua mất mát nhìn thấy người thân hi sinh phải lìa xa gia đình thân thuộc nên những vần thơ của chị luôn đau đáu: “Tuổi xanh đời cậu đọa đày/ Tháng năm xích sắt, gót giày nhà lao/…Trở về, khuất bóng mẹ cha/ Chị em li tán cửa nhà nát tan!/ Một mình trăm nỗi xốn xang/ Quê hương còn giặc, xóm làng chưa vui”.
Đây là bài thơ chị đề tặng người cậu Lê Quang Lưu, người đã hi sinh cuộc đời thanh xuân của mình bị tù đày nơi nhà lao Phú Quốc với bao đau đớn. Sau bao năm, thân vẫn còn mảnh đạn buốt tê nhưng tình yêu với quê hương, tổ quốc không bao giờ phai: “Tay nâng khẩu súng ngùi ngùi/ Trên môi cậu vẫn nụ cười trẻ trung” (Gặp cậu trên đường hành quân). Khát khao chiến đấu cống hiến cho quê hương dường như không khi nào phai mờ trong lòng những người lính. Là người chứng kiến sự đau thương của quê hương mình trong đó gia đình là phần máu thịt cũng chịu nhiều tang thương chị đã bùi ngùi viết: “Tôi đi tìm gặp các em tôi/ Đứa đã đi xa, đứa mất rồi/ Bạn bè biết bao người ngã xuống/ Máu đỏ triền sông cuối bãi bồi/… Ông kể nhiều về lũ ác ôn/ Đã giết ông tôi trước cổng đồn/ Xác kéo quanh làng treo giữa chợ/ Ba ngày phơi nắng chẳng cho chôn…” (Về quê nội giữa vành đai trắng).
Lệ Thu dùng các động từ “ngã”, “treo” “kéo”, “phơi” để diễn tả tội ác của giặc và cũng là sự mất mát của chính mình. Chưa dừng lại ở đó, lời thơ còn kể sự đau thương ấy tới “người anh ở trước nhà” giờ “Một bàn tay cụt, đôi nạng gỗ/ Hận của ba năm “lính cộng hòa”/…” rồi “người chị họ” thì “Chồng chị chết bom, con chết trận/ “Chúng làm tan nát cả em ơi”. Đau thương ấy kể khi nào mới nguôi đó không chỉ là nỗi đau của riêng chị mà còn là của cả một dân tộc nỗi đau thương lên đến tận cùng. Nhưng những lớp thế hệ sau họ không run sợ mà vẫn tiếp tục cuộc hành trình gian khổ của lớp lớp cha anh để lại mặc dù cái chết hiện diện trước mắt: “Tôi gặp người em chưa biết tên/…Vừa mới xung vào “du kích mật”/ Em cười đôi mắt sáng mông mênh” (Về quê nội giữa vành đai trắng).
Nụ cười ấy chính là 16 hành trang vững chắc là niềm tin chiến thắng, cho khát vọng hào hùng của một ngày mai tươi sáng. Chiến tranh còn là nguyên nhân chia cắt đất nước Bắc – Nam như Chị và Em ở hai đầu Tổ Quốc còn dải đất mẹ Miền Trung rứt ruột “ngóng Bắc, chờ Nam”. Đó là những ngày Tổ quốc ta tách biệt hai miền Nam – Bắc, miền Bắc đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam vẫn chống quân thù: “Em trầm tư như một ngọn tháp Chàm/ Yêu nghĩa khí từ câu thơ Đồ Chiểu/…Cùng bè bạn xuống đường/ Em hát: Dậy mà đi! trong khi đó Chị nơi đất Bắc chén cơm sẻ nửa/ Trong bom rơi Chị vẫn đến trường”. Nhưng rồi sự đoàn tụ chính là ngày thống nhất: “Hãy cười lên em ơi/ Những cách biệt ngày qua sẽ hết” (Chị và em từ hai đầu đất nước).
Đó cũng chính là ước mong của toàn thể nhân dân Việt Nam. Là người con của đất Bình Định ngoan cường, với cảm hứng lịch sử - quê hương - đất nước Lệ Thu đã dành khá nhiều bài thơ ca ngợi đất và người của quê hương mình: “Một mảnh trời Tuy Phước tựa vành nôi/ anh dũng vậy mà khiêm nhường đến vậy” (Màu xanh cây lúa). Hay như: “Người con Quy Nhơn/ qua hai cuộc chiến thăng trầm/ người bác sĩ chỉnh hình/ về nối lại chân tay cho đồng đội” (Ghềnh Ráng). Chị viết về quê hương bằng giọng điệu tự hào chị nhắc lại những năm kháng chiến những đau thương mà mảnh đất quê mình trải qua bằng những gì tự hào nhất của một người con xứ sở.
Thơ chị còn là một bản anh hùng ca của các địa danh quê hương lưu tên mình trong cuộc chiến tranh ngoan cường của Tổ Quốc: “Trong nóng bỏng tình người Công Thạnh/ Trong rạo rực sóng cồn Thiện Chánh/ Sóng muôn đời mang vị mặn thiết tha” (Dưới tầm pháo giặc). Chị viết về địa danh trong kháng chiến của quê hương mình với niềm tự hào: “Mùa trăng Mỹ Lợi chưa tàn/ Phú Ninh vây chốt/ Chánh Khoan phá đồn/ Diêm Tiêu lửa cháy khu dồn/…Bồn chồn Phú Cũ, Trà Quang/ Bình Dương lính chạy hoang mang hãi hùng” (Tên đất – hồn người) hay: “Nỗi đau từ Chảng Ba Đình/ Chiến công 17 Núi Bé, nghĩa tình Hòa Sơn/ Quê hương chất chứa căm hờn/ Gia An, Quy Thuận, Thành Sơn, Chương Hòa…” (Đất của những người trụ bám). Trong thơ Lệ Thu những địa danh đất nước gắn liền với cuộc chiến luôn nhắc chị nhớ về năm tháng khói lửa ấy nên chị lưu lại cố gắng để không xót một nơi nào trong trí nhớ: “Làng Phú Thứ mờ sương/ Mênh mông mặt đầm Trà Ổ/ Biển Tân Phụng chờ ta trong nỗi nhớ/ Ngã Tư Chánh Trực/ Xóm nhỏ Cát Tường/ Chiều nào qua chợ An Lương/ Rạng rỡ mặt người trong màu cờ giải phóng!” (Những cuộc hành quân im lặng). Bằng những vần thơ mộc mạc mà sâu lắng, Lệ Thu đã cho thấy lòng tự hào sâu sắc tình cảm sâu nặng với từng mảnh đất, con đường, xóm nhỏ, gắn bó với truyền thống quê hương, gắn với nỗi đau thời cuộc.
Nhưng khí phách và sự dũng cảm kiên trinh không bao giờ thay đổi được dù bom đạn thế nào. Qua đó chính mỗi người đọc cũng thấy tự hào về quê hương, đất nước mình. Hình tượng nhân vật anh hùng được Lệ Thu dùng những vần thơ vô vàn trân trọng và tự hào dựng lên. Đó là biểu tượng cho truyền thống đấu tranh của dân tộc là niềm tin yêu của nhân dân đối với lịch sử hào hùng, bất khuất chống giặc ngoại xâm.
Lệ Thu nhắc lại mối tình Mỵ Châu – Trọng Thủy để nhắc lại lịch sử và nguyên nhân mất nước Âu Lạc của An Dương Vương, bằng giọng cảm thương Lệ Thu đã thấu hiểu cho sự ngây thơ của Mỵ Châu khi đặt mình vào chính Mỵ Châu: “Ta là công chúa Mỵ Châu/ Trọng Thủy ơi hãy trả đầu cho ta! Trách gì lưỡi kiếm vua cha/ Xử con đánh mất sơn hà vì yêu” (Tình Mỵ Châu). Với lòng tự hào Lệ Thu ngợi ca những hình tượng anh hùng, đó là kết tinh của cộng đồng. Những hình tượng anh hùng được dựng xây qua hàng ngàn năm lịch sử. Tiêu biểu là người anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ: “Đất nước này/ ngàn năm/ hoa và máu/ đẫm từng trang lịch sử anh hùng/ mãi thấp thoáng vườn trầu/ Nguyễn Huệ - Quang Trung!” Hình ảnh 18 Quang Trung – Nguyễn Huệ đi vào thơ Lệ Thu như một niềm tự hào và một niềm tin sắt đá của dân tộc bao đời nay nhân dân ta sẽ bảo vệ và dựng xây mảnh đất: “Chiến thắng mấy chục vạn quân xăm lăng/ Đâu dễ dàng như ngồi vào mâm tiệc/ Chinh Nam phạt Bắc/ Bao gian truân/ Sống chết/ Áo vải cờ đào” (Thấp thoáng vườn trầu).
Lệ Thu không chỉ xây dựng nên một nhân vật anh hùng của một thời kì mà đã tóm lược những hình tượng tiêu biểu của lịch sử dân tộc. Quê hương Bình Định không chỉ tự hào với hình tượng Quang Trung – Nguyễn Huệ mà còn tự hào với tên tuổi nữ tướng Bùi Thị Xuân vợ Thái phó Trần Quang Diệu và là một trong những đô đốc của vương triều Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam. Là một nữ tướng văn, võ, trí, dũng vẹn toàn và vô cùng anh dũng. Khi vương triều Tây Sơn thất bại bà bị Nguyễn Ánh xử tử bằng cách cho voi xé xác man rợ nhưng không hề run sợ.
Với sự yêu quý Lệ Thu đã thay mặt nhiều tấm lòng dành cho bà những lời ca tụng: “Bùi Thị Xuân ơi! Ngọn lửa thiêu liệt nữ/ Giữa lòng người muôn thuở cháy khôn nguôi” (Ngày hội Tây Sơn). Dọc theo chiều dài của lịch sử dân tộc, những tượng đài anh hùng chống kẻ thù xâm lược cũng được Lệ Thu yêu mến và ca ngợi: “Tháng ngày chẳng chút nghỉ ngơi/ Bão giông dưới cánh “vọng lời mẹ ru”/ Hạ bao nhiêu máy bay thù/ Một thời bão lửa – sương mù – mây đen” (Cánh bạc) để ca ngợi anh hùng Nguyễn Hồng Nhị - người con của đất Tam Quan với sự kiên cường và nhiều chiến công oanh liệt. Trong bài Kính viếng hương hồn Đại tướng Võ Nguyên Giáp chị viết: “Trí tuệ tài năng, dũng lược, khiêm nhường…/ cánh chim đầu đàn/ cho bao lớp thanh niên đất Việt/ một con Người, một trái tim cao khiết/ đã vì Dân, vì nước trọn đời” (Dân yêu ai, đích thị ấy anh hùng). Ngay từ tên của bài thơ đã cho thấy khái niệm tượng đài, khái niệm anh hùng ở đây rất giản đơn, gần gũi, dung dị, không màu mè không phải xây bằng đá hoa cương kiên cố mà giản đơn được xây bằng tình yêu của hàng triệu con 19 người Việt Nam.