Tài liệu tham khảo môn triết học dành cho học viên cao học

Tài liệu nghiên cứu Tài liệu tham khảo môn triết học dùng cho học viên cao học, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

tài liệu tham khảo

2023

135
15
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC

1.1. Mục tiêu chương

1.2. Triết học và vấn đề cơ bản của triết học

1.3. Sự hình thành, phát triển tư tưởng triết học trong lịch sử

1.4. Triết học Mác - Lênin và vai trò của nó trong đời sống xã hội

1.5. Sự kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh

1.6. Câu hỏi thảo luận

2. BẢN THỂ LUẬN

2.1. Mục tiêu chương

2.2. Khái niệm “bản thể luận” và nội dung bản thể luận trong lịch sử triết học

2.3. Nội dung bản thể luận của triết học Mác – Lênin

2.4. Mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan

2.5. Câu hỏi thảo luận

3. PHÉP BIỆN CHỨNG

3.1. Mục tiêu chương

3.2. Khái niệm “biện chứng” và khái quát lịch sử phép biện chứng

3.3. Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác-Lênin

3.4. Những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật

3.5. Câu hỏi thảo luận

4. NHẬN THỨC LUẬN

4.1. Mục tiêu chương

4.2. Một số vấn đề cơ bản của nhận thức luận

4.3. Nhận thức luận duy vật biện chứng

4.4. Phương pháp đặc thù của nhận thức xã hội

4.5. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng

4.6. Câu hỏi thảo luận

5. HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI

5.1. Mục tiêu chương

5.2. Phương pháp tiếp cận duy vật và duy tâm về xã hội

5.3. Những nội dung cơ bản của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội

5.4. Giá trị khoa học, cách mạng của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội

5.5. Câu hỏi thảo luận

6. TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ

6.1. Mục tiêu chương

6.2. Quan niệm về chính trị trong lịch sử triết học

6.3. Các phương diện cơ bản về chính trị trong đời sống xã hội

6.4. Vấn đề đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay

6.5. Câu hỏi thảo luận

7. TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI

7.1. Mục tiêu chương

7.2. Khái lược các quan điểm triết học về con người trong lịch sử

7.3. Quan điểm triết học Mác - Lênin về con người

7.4. Vấn đề con người trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

7.5. Vấn đề phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam

7.6. Câu hỏi thảo luận

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tài liệu tham khảo triết học

Tài liệu tham khảo triết học dành cho học viên cao học được biên soạn bởi TS. Phùng Văn Ứng và nhóm tác giả tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh. Tài liệu này tuân thủ chương trình đào tạo thạc sĩ theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhằm hỗ trợ học viên nghiên cứu và giảng viên trong quá trình giảng dạy. Tài liệu chuyên ngành này tập trung vào các vấn đề cơ bản của triết học, bao gồm lịch sử hình thành, phát triển và ứng dụng thực tiễn của triết học Mác - Lênin.

1.1. Mục tiêu và cấu trúc tài liệu

Tài liệu được thiết kế theo đề cương môn học, bao gồm các chương như Khái luận về triết học, Bản thể luận, Phép biện chứng, và Nhận thức luận. Mỗi chương đều có mục tiêu rõ ràng, giúp học viên cao học nắm vững kiến thức nền tảng và ứng dụng vào thực tiễn. Tài liệu hướng dẫn chi tiết này cũng cung cấp câu hỏi thảo luận để củng cố kiến thức.

1.2. Giá trị thực tiễn

Tài liệu tham khảo chuyên sâu này không chỉ phục vụ mục đích học tập mà còn là nguồn tư liệu quý giá cho nghiên cứu triết học. Nó giúp học viên hiểu sâu hơn về vai trò của triết học trong đời sống xã hội và cách vận dụng lý luận vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

II. Triết học và vấn đề cơ bản

Chương Khái luận về triết học trình bày tổng quan về triết học, bao gồm nguồn gốc, đối tượng và vấn đề cơ bản của triết học. Triết học Mác - Lênin được nhấn mạnh như một học thuyết có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Chương này cũng đề cập đến sự kế thừa và phát triển của triết học trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.

2.1. Nguồn gốc và đối tượng triết học

Triết học ra đời từ nhu cầu thực tiễn, với nguồn gốc nhận thức và xã hội. Đối tượng của triết học thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử, từ khoa học của mọi khoa học thời cổ đại đến sự tách biệt với các khoa học cụ thể trong thời kỳ hiện đại.

2.2. Vấn đề cơ bản của triết học

Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Cách giải quyết vấn đề này quyết định thế giới quan và phương pháp luận của các triết gia. Chủ nghĩa duy vậtchủ nghĩa duy tâm là hai trào lưu chính trong lịch sử triết học.

III. Phương pháp nghiên cứu triết học

Tài liệu cung cấp phương pháp nghiên cứu hiệu quả cho học viên cao học, bao gồm cách tiếp cận duy vật biện chứng và duy tâm. Phương pháp luận được xem là công cụ quan trọng để phân tích và giải quyết các vấn đề triết học.

3.1. Phương pháp biện chứng

Phép biện chứng là phương pháp chủ đạo trong triết học Mác - Lênin, giúp nhận thức sự vận động và phát triển của thế giới. Phương pháp luận biện chứng được áp dụng trong nghiên cứu các hiện tượng xã hội và tự nhiên.

3.2. Phương pháp nhận thức luận

Nhận thức luận duy vật biện chứng tập trung vào mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. Phương pháp đặc thù này giúp học viên hiểu rõ quá trình nhận thức và vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

IV. Ứng dụng triết học trong thực tiễn

Tài liệu nhấn mạnh vai trò của triết học trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và chính trị. Học thuyết hình thái kinh tế - xã hộitriết học chính trị được phân tích kỹ lưỡng, giúp học viên hiểu rõ hơn về sự vận động của xã hội và con người.

4.1. Học thuyết hình thái kinh tế xã hội

Học thuyết này phân tích mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giúp học viên hiểu rõ quy luật phát triển của xã hội. Giá trị khoa học của học thuyết được nhấn mạnh trong việc giải quyết các vấn đề thực tiễn.

4.2. Triết học về con người

Chương này tập trung vào các quan điểm triết học về con người, từ thời cổ đại đến hiện đại. Quan điểm triết học Mác - Lênintư tưởng Hồ Chí Minh về con người được phân tích sâu sắc, giúp học viên hiểu rõ vai trò của con người trong sự nghiệp đổi mới.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC Mục tiêu chương Chương này giúp người học nắm được tổng quan về triết học đó là các vấn đề về lịch sử ra đời và phát triển, đối tượng, chức năng, vai trò và ý nghĩa cũng như một số khái niệm nền tảng của triết học nói chung, triết học Mác – Lênin nói riêng. Cũng qua chương này, người học nắm được sự kế thừa, phát triển vận dụng sáng tạo triết học Mác – Lênin trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Triết học và vấn đề cơ bản của triết học a) Triết học và đối tượng của triết học - Quan niệm về triết học Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ thức VI (tr.

CN) ở Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại. Chữ Hán, thuật ngữ “triết” có nghĩa là “trí”, chỉ sự hiểu biết, nhận thức sâu rộng về vũ trụ và nhân sinh. Trong văn hóa Ấn Độ, thuật ngữ “triết” là “darshana”, có nghĩa là “chiêm ngưỡng” nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải, thấu đạt được chân lý về vũ trụ và nhân sinh. Tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì thuật ngữ triết học “philosophia” gồm hai từ ghép: “philos” là “yêu thích” và “sophia” là sự thông thái; ý nghĩa của thuật ngữ triết học là “ yêu mến sự thông thái”.

Dù ở phương Đông hay phương Tây, ở thời kỳ đầu hay sau này, người ta đều quan niệm triết học là đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhận thức sâu sắc thế về giới, nắm bắt được chân lý, hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng. Nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, có trình độ khái quát hoá và tư duy trừu tượng cao. Theo quan điểm mácxít, triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy. - Nguồn gốc ra đời của triết học Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

Nguồn gốc nhận thức: Triết học là một hình thái ý thức xã hội có tính khái quát và tính trừu tượng cao, do đó, triết học chỉ xuất hiện khi con người đã có trình độ tư 3 duy trừu tượng hoá, khái quát hoá, hệ thống hoá để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận. Nguồn gốc xã hội: Trong nền sản xuất xã hội đã có sự phân công lao động thành lao động trí óc và lao động chân tay. Đặc biệt, phải có sự xuất hiện đội ngũ lao động trí óc, có năng lực tư duy trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa toàn bộ tri thức của thời đại để xây dựng nên các học thuyết. Xã hội đã có sự phân chia giai cấp.

Giai cấp thống trị có điều kiện để học tập, nghiên cứu triết học. Bởi vậy, ngay từ khi Triết học xuất hiện đã tự mang trong mình tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của những giai cấp, những lực lượng xã hội nhất định. - Vấn đề đối tượng triết học Đối tượng của triết học thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử trong quá trình phát triển. Thời cổ đại triết học là “khoa học của mọi khoa học”.

Thời kỳ này, triết học đã đạt được những thành tựu đáng kể. Hệ thống các quan điểm triết học đã ra đời và ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của triết học các thời đại sau nó, thậm chí ảnh hưởng đến cả sự phát triển của toán học, vật lý học, hóa học, thiên văn học và các ngành khoa học xã hội và nhân văn như đạo đức học, mỹ học, dân tộc học , xã hội học, v. Thời kỳ Trung cổ, ở Tây Âu, triết học chỉ còn nhiệm vụ là chứng minh sự đúng đắn của Kinh thánh, luận giải và thuyết phục người ta tin tưởng vào Chúa trời. Triết học tự nhiên được thay thế bằng triết học kinh viện.

Thế kỷ XV - XVI, cùng với sự phát triển của các môn khoa học tự nhiên là sự phục hồi tưởng triết học duy vật cổ đại. Triết học dần dần tách khỏi thần học và các khoa học cụ thể, phát triển thành các bộ môn riêng biệt với các học thuyết về bản thể luận, vũ trụ luận, tri thức luận, nhận thức luận, logic học, mỹ học, đạo đức học… Thế kỷ XVII - XVIII, triết học duy vật dựa trên cơ sở tri thức của khoa học tự nhiên thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng và đóng vai trò tích cực trong đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo. Đỉnh cao của sự phát triển triết học duy vật thời kỳ này là ở Anh, Pháp, Hà Lan với những đại biểu tiêu biểu: Phranxi Bêcơn, Tômát Hốpxơ (Anh), Điđrô, Henvêtiuýt, Hônbách (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)…” Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, sự phát triển của các khoa học cụ thể và thành tựu mà nó đạt được đã làm phá sản tham vọng của các nhà triết học muốn biến triết học thành “khoa học của mọi khoa học”; trong số đó, triết học Hêghen là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó. 4 Những năm 40 của thế kỷ thứ XIX, triết học Mác ra đời, C.

Ăngghen đã làm cuộc cách mạng trong triết học. Vì thế, triết học Mác đã đoạn tuyệt với các quan niệm sai lầm khi coi triết học là “khoa học của mọi khoa học”. Với tư cách là một khoa học, triết học Mác nghiên cứu những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. b) Vấn đề cơ bản của triết học và chức năng cơ bản của triết học - Vấn đề cơ bản của triết học: Vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy hay giữa tự nhiên và tinh thần là vấn đề cơ bản của triết học.

Đây là vấn đề cơ sở, nền tảng, xuyên suốt mọi học thuyết triết học trong lịch sử, quyết định sự tồn tại của triết học. Kết quả và thái độ của việc giải quyết vấn đề cơ bản triết học quyết định sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận của các triết gia, xác định bản chất của các trường phái triết học. Giải quyết vấn đề này là cơ sở, điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học, đồng thời quyết định cách xem xét các vấn đề khác trong đời sống xã hội. Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt: Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi: Giữa vật chất và ý thức, giới tự nhiên và tinh thần cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Mặt thứ hai trả lời câu hỏi: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Tuỳ thuộc vào lời giải đáp cho câu hỏi thứ nhất, các học thuyết triết học khác nhau chia thành hai trào lưu cơ bản là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.

Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau; thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý thức con người và không do ai sáng tạo ra; còn ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người; không thể có tinh thần, ý thức nếu không có vật chất. Hình thái lịch sử đầu tiên của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật chất phác, ngây thơ thời cổ đại. Hình thái này đã xuất hiện ở nhiều dân tộc trên thế giới mà tiêu biểu là ở các nước: Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp, La Mã cổ đại. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời kỳ này chất phác, ngây thơ, xuất phát từ giới tự nhiên để giải thích thế giới.

5 Hình thái thứ hai là chủ nghĩa duy vật, máy móc, siêu hình thế kỷ XVII -XVIII. Hình thái này ra đời khi giai cấp tư sản đang lên, nhằm chống lại thế giới quan duy tâm, tôn giáo của giai cấp phong kiến. Nhưng do ảnh hưởng của quan điểm máy móc, cơ học và phương pháp mô tả, thực nghiệm, chia cắt nên chủ nghĩa duy vật không thoát khỏi quan điểm máy móc, siêu hình. Hình thái lịch sử thứ ba là chủ nghĩa duy vật biện chứng, được xây dựng và không ngừng phát triển trên cơ sở khoa học, công nghệ hiện đại và thực tiễn của thời đại mới.

Đối lập với chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm cho rằng, ý thức, tinh thần có trước và là cơ sở cho sự tồn tại của giới tự nhiên, vật chất. Chủ nghĩa duy tâm cũng xuất hiện ngay từ thời cổ đại và tồn tại dưới hai dạng chủ yếu: chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Chủ nghĩa duy tâm khách quan với các đại biểu nổi tiếng: Platôn, Hêghen. cho rằng, có một thực thể tinh thần (“lý tính thế giới”; “tinh thần tuyệt đối”, “ý niệm tuyệt đối”) là cái có trước thế giới vật chất, tồn tại ở bên ngoài con người và độc lập đối với con người, sản sinh ra và quyết định tất cả các quá trình của thế giới vật chất.

Chủ nghĩa duy tâm chủ quan với các đại biểu nổi tiếng: Béccơli, Hium, Phíchtơ, v., cho rằng cảm giác, ý thức của con người là cái có trước và quyết định sự tồn tại của mọi sự vật, hiện tượng bên ngoài. Các sự vật, hiện tượng chỉ là “những tổng hợp của cảm giác”, là “phức hợp của các cảm giác”. Cả hai dạng của chủ nghĩa duy tâm, tuy có khác nhau trong quan niệm cụ thể nhưng đều thống nhất với nhau ở chỗ coi ý thức, tinh thần là cái có trước, là cái sản sinh ra và quyết định vật chất. Chủ nghĩa duy tâm thường gắn liền với tôn giáo.

Tuy nhiên, thế giới quan tôn giáo dựa trên cơ sở lòng tin. Còn chủ nghĩa duy tâm triết học dựa trên cơ sở tri thức, là sản phẩm của tư duy lý tính của con người. Do vậy, các học thuyết triết học duy tâm ít nhiều đều có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển tư tưởng triết học nhân loại. Chủ nghĩa duy vật có mối liên hệ chặt chẽ với các lực lượng, các giai cấp tiến bộ, cách mạng và luôn gắn bó, quan hệ mật thiết với sự phát triển của khoa học.

Chủ nghĩa duy tâm có nguồn gốc xã hội là mối liên hệ với các lực lượng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ, nguồn gốc nhận thức của nó là tuyệt đối hoá một mặt của quá trình nhận thức, tách ý thức ra khỏi thế giới vật chất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu tham khảo triết học dành cho học viên cao học | Hướng dẫn chi tiết là một nguồn tài nguyên quý giá, cung cấp kiến thức chuyên sâu và hướng dẫn chi tiết về các khái niệm triết học, giúp học viên cao học nắm vững lý thuyết và áp dụng vào nghiên cứu. Tài liệu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các trường phái triết học mà còn hỗ trợ trong việc phát triển tư duy phản biện và kỹ năng phân tích. Để mở rộng kiến thức, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ triết học tìm hiểu tư tưởng đạo đức trong kinh quran, Tiểu luận triết học nâng cao tài liệu giành cho các lớp cao học không chuyên triết, và Bồi dưỡng học sinh giỏi lí luận văn học tập 2 hay 66 trang. Những tài liệu này sẽ giúp bạn khám phá sâu hơn các chủ đề liên quan và nâng cao hiểu biết của mình.