Tiểu luận triết học nâng cao: Tài liệu hữu ích cho sinh viên cao học không chuyên

Tiểu luận triết học nâng cao cung cấp tài liệu hữu ích cho sinh viên cao học không chuyên triết, giúp nâng cao kiến thức và kỹ năng phân tích.

Chuyên ngành

Triết Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

bài giảng

2018

87
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC

1.1. TRIẾT HỌC LÀ GÌ

1.1.1. Triết học và đối tượng của triết học

1.1.1.1. Khái niệm triết học

1.1.2. Các loại hình triết học cơ bản

1.1.2.1. Vấn đề cơ bản của triết học
1.1.2.2. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
1.1.2.3. Chủ nghĩa duy vật và các hình thức cơ bản của nó
1.1.2.4. Chủ nghĩa duy tâm và các hình thức cơ bản của nó
1.1.2.5. Khả tri và Bất khả
1.1.2.6. Siêu hình và Biện chứng

1.2. TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY

1.2.1. Triết học phương Đông

1.2.1.1. Đặc thù lịch sử của triết học phương Đông
1.2.1.2. Triết học Ấn Độ cổ đại
1.2.1.2.1. Điều kiện kinh tế-xã hội và đặc điểm về tư tưởng triết học Ấn Độ cổ, trung đại
1.2.1.2.2. Các tư tưởng triết học cơ bản của các trường phái triết học
1.2.1.2.2.1. Các trường phái triết học chính thống
1.2.1.2.2.1.1. Trường phái Sàmkhya
1.2.1.2.2.1.2. Trường phái Mimànsà
1.2.1.2.2.1.3. Trường phái Vedànta
1.2.1.2.2.1.4. Trường phái Yoga
1.2.1.2.2.1.5. Trường phái Nyàya – Vai’sesika
1.2.1.2.2.2. Các trường phái không chính thống
1.2.1.2.2.2.1. Trường phái Jaina

Tóm tắt

I. Tài liệu Triết học cho Sinh viên Cao học Không chuyên ngành

Bài viết phân tích tài liệu Triết học nâng cao được biên soạn bởi Khoa Lý luận Chính trị của Trường Đại học Hàng hải Việt Nam. Tài liệu này được thiết kế dành riêng cho **sinh viên cao học ** không chuyên ngành Triết học, nhằm giúp họ nắm bắt những kiến thức triết học cơ bản và nâng cao.

1.1 Mục tiêu của Tài liệu

Tài liệu hướng đến ba mục tiêu chính: Cung cấp kiến thức triết học nền tảng, kế thừa từ chương trình đại học và đi sâu vào lịch sử triết họctriết học Mác - Lênin; Nâng cao tính ứng dụng của triết học vào thực tiễn Việt Nam hiện nay; Phát triển khả năng tư duy logic, áp dụng triết học Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh vào nghiên cứu và công việc thực tế.

1.2 Nội dung Tài liệu

Tài liệu tập trung phân tích khái niệm triết học, đối tượng của triết học, các trường phái triết học cơ bản (duy vật, duy tâm, siêu hình, biện chứng), triết học phương Đôngtriết học phương Tây. Phần triết học phương Đông đi sâu vào triết học Ấn Độ cổ đại với các trường phái chính thống (Sàmkhya, Mimànsà, Vedànta, Yoga, Nyàya – Vai’sesika) và không chính thống (Jaina, Lokàyata và Buddha).

II. Phân tích và Đánh giá Tài liệu

Tài liệu có giá trị thực tiễn cao, cung cấp kiến thức triết học nền tảng cho sinh viên cao học không chuyên ngành. Việc phân chia nội dung rõ ràng, dễ hiểu, sử dụng thuật ngữ triết học chính xác, khoa học giúp người đọc tiếp cận dễ dàng. Tuy nhiên, tài liệu mới chỉ tập trung vào triết học Ấn Độ cổ đại mà chưa đề cập đến triết học Trung Quốc cổ đại, một phần quan trọng của triết học phương Đông.

2.1 Điểm mạnh

Ngôn ngữ dễ hiểu, thuật ngữ chính xác, bố cục rõ ràng. Nội dung được chọn lọc kỹ lưỡng, phù hợp với đối tượng sinh viên cao học không chuyên ngành. Giá trị thực tiễn cao, giúp người đọc nắm bắt kiến thức triết học cơ bản, từ đó có cái nhìn tổng quan về triết học.

2.2 Hạn chế

Chưa đề cập đến triết học Trung Quốc cổ đại, một phần quan trọng của triết học phương Đông. Nội dung về triết học phương Tây còn khá sơ lược. Tài liệu chưa có phần kết luận để tổng kết lại các vấn đề triết học đã trình bày.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu thời kỳ Trung Hoa phong kiến. Trong khoảng 2000 năm đó, lịch sử Trung Hoa được phân chia làm hai thời kỳ lớn: Thời kỳ từ thế kỷ IX tr.CN trở về trước; và thời kỳ từ thế kỷ VIII tr.CN đến cuối thế kỷ III tr. Thời kỳ thứ nhất: gồm các triều đại nhà Hạ, nhà Thương và Tây Chu: Thời kỳ thứ hai (thường gọi là thời xuân thu-chiến quốc) là thời kỳ chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến với những đặc điểm cơ bản sau đây: + Đất đai trước đây thuộc về nhà vua thì nay bị một tầng lớp mới, tầng lớp địa chủ chiếm làm tư hữu. + Sự phân hóa sang hèn dựa trên cơ sở tài sản đã xuất hiện.

+ Xã hội ở vào tình trạng hết sức đảo lộn: sự tranh giành địa vị xã hội của các thế lực cát cứ đã đẩy Trung Hoa cổ đại vào tình trạng chiến tranh liên miên. Đây chính là điều kiện lịch sử đòi hỏi phải giải thể chế độ nô lệ thị tộc, hình thành xã hội phong kiến. Trong tình hình đó, một loạt học thuyết chính trị - xã hội và triết học đã xuất hiện và hầu hết đều có xu hướng giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội. Lịch sử gọi thời kỳ này là thời kỳ “ bách gia chư tử” “ bách gia minh tranh”.

Điều đó trở thành nét đặc trưng chủ yếu của triết học Trung Hoa cổ đại. - Đặc điểm của triết học Trung Hoa cổ, trung đại: Thứ nhất: là nền triết học nhấn mạnh tinh thần nhân văn, còn triết học tự nhiên có phần mờ nhạt. Thứ hai là các triết gia Trung Hoa đều xem thực hành đạo đức như là hoạt động thực tiễn căn bản nhất của một đời người, là vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội. Thứ ba là nhấn mạnh sự hài hoà thống nhất giữa tự nhiên và xã hội 14 Tieu luan Thứ tư là triết học dựa trên tư duy trực giác, phương thức tư duy trực giác đặc biệt coi trọng tác dụng của cái tâm, coi tâm là gốc rễ của nhận thức.

Một số học thuyết tiêu biểu của triết học Trung hoa cổ, trung đại 1.Thuyết Âm - Dương, Ngũ hành Một là: Tư tưởng triết học về Âm – Dương Triết học Âm – Dương có thiên hướng suy tư về nguyên lý vận hành đầu tiên và phổ biến của vạn vật, đó là sự tương tác của hai thế lực đối lập nhau: Âm và Dương + “Âm” là một phạm trù rất rộng, phản ánh khái quát những thuộc tính phổ biến của vạn vật như: nhu, thuận, tối, ẩm, phía dưới, phía phải, số chẵn… + “Dương” là phạm trù đối lập với “Âm”, phản ánh khái quát những tính chất phổ biến như: cương, cường, sáng, khô, phía trên, phía trái, số lẻ… + Hai thế lực Âm – Dương không tồn tại biệt lập mà là thống nhất với nhau, chế ước lẫn nhau theo ba nguyên lý căn bản sau: (1). Âm – Dương thống nhất trong Thái cực. Nguyên lý này nói lên tính toàn vẹn, chỉnh thể, cân bằng của cái đa và cái duy nhất. Chính nó bao hàm tư tưởng về sự thống nhất giữa cái bất biến và cái biến đổi.

Trong Âm có Dương và trong Dương có Âm. Do đó, trong động có tĩnh, trong tĩnh có động, Âm - Dương có động mới giao nhau, mới biến mà sinh sinh- hoá hoá => nguyên nhân căn bản của sự biến đổi là giao cảm của Âm-Dương. Hai nguyên lý này thường được các học giả phái Âm – Dương khái quát bằng vòng tròn khép kín (tượng trưng cho thái cực), trong đó được chia thành hai nửa đối lập (đen – trắng) và trong nửa này đã bao hàm nhân tố của nửa kia, biểu tượng cho nguyên lý: trong Âm có Dương và trong Dương có Âm. Sự khái quát đồ hình Thái cực, Âm – Dương còn bao hàm nguyên lý: Dương tiến đến đâu thì Âm lùi đến đó và ngược lại, đồng thời “Dương cực Âm sinh”, “Âm thịnh thì Dương khởi”.

Để giải thích lịch trình biến hoá trong vũ trụ, người Trung Hoa đã đưa ra cái Lôgic tất định: thái cực sinh Lưỡng nghi (Âm – Dương); lưỡng nghi sinh Tứ tượng (Thái Dương – Thiếu Âm – Thiếu Dương – Thái Âm) và tứ tượng sinh Bát quái (Càn – Khảm – Cấn – Chấn – Tốn – Ly – Khôn – Đoài); bát quái sinh vạn vật. Tư tưởng triết học về Âm - Dương đạt tới mức là một hệ thống hoàn chỉnh trong tác phẩm kinh dịch, tinh hoa của kinh dịch là dịch, tượng, từ với nguyên lý Âm - Dương, cụ thể: 15 Tieu luan + “Dịch”: là sự biến hoá, phát triển của vạn vật ( biến dịch ) với quy luật là: không rõ ràng -> rõ ràng -> sâu sắc -> kịch liệt -> cao điểm -> mặt trái. Nguyên nhân căn bản tạo nên sự biến hoá của sự vật là sự giao cảm của Âm- Dương trong thái cực. + “Tượng”: chỉ sự biến dịch của vạn vật, biểu hiện qua các quẻ.

+ “Từ”: là biểu thị tượng về phương diện lành hay dữ, động hay tĩnh. + “Nguyên lý Âm- Dương” nói lên khả năng biến đổi Âm– Dương đã bao hàm trong mỗi mặt đối lập của Thái cực, là nguyên nhân căn bản tạo nên sự biến hoá trong vũ trụ Hai là: những tư tưởng triết học về Ngũ hành Tư tưởng triết học về ngũ hành có quan hệ với việc sùng bái của con người với 5 loại vật chất của tự nhiên cần thiết, đó là: Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ, năm loại vật chất ấy luôn vận động biến đổi, và khi tác động vào các giác quan của con người cho ta những biến thái về tâm sinh lý. Năm yếu tố này không tồn tại biệt lập tuyệt đối, mà trong một hệ thống ảnh hưởng sinh – khắc với nhau theo hai nguyên tắc: + Tương sinh (sinh hóa cho nhau): Thổ sinh Kim; Kim sinh Thủy; Thủy sinh Mộc; Mộc sinh Hóa; Hỏa sinh Thổ;. + Tương khắc (chế ước lẫn nhau); Thổ khắc Thủy; Thủy khắc Hỏa; Hỏa khắc Kim; Kim khắc Mộc; và Mộc khắc Thổ;.Nho gia (thường gọi là Nho giáo) Nho gia xuất hiện vào khoảng thế kỉ VI tr.CN dưới thời Xuân Thu, người sáng lập là Khổng Tử (551 tr.

Kinh điển của Nho giáo thường được kể tới là Tứ Thư (Luận Ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử) và Ngũ Kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu). Quan điểm về tự nhiên, xã hội, chính trị - đạo đức của Nho gia được thể hiện ở những tư tưởng chủ yếu sau: - Về vũ trụ và giới tự nhiên + Khổng tử tin vào vũ trụ quan “dịch”, tin vào sự vận hành biến hoá không ngừng của sự vật, cuộc vận hành ấy có trật tự, có hoà điệu, mà nguyên nhân của trật tự và hoà điệu ấy con người không thể cưỡng lại được, nên Khổng tử gọi đó là “ Thiên mệnh”, ông cho “Trời” có ý chí làm chúa tể của vũ trụ, chi phối mọi sự biến hóa cho hợp lẽ điều hoà. Tin vào mệnh trời, Khổng tử coi việc hiểu biết mệnh trời là điều kiện để trở thành người hoàn thiện. Đôi khi Khổng tử quan niệm“Trời” là giới tự nhiên (thiên hà ngôn tai.) 16 Tieu luan + Khổng tử tin có quỷ thần, nhưng quan niệm quỷ thần của ông có tính chất lễ giáo nhiều hơn là tôn giáo.

Khổng tử cũng cho rằng quỷ thần không có tác dụng chi phối đời sống của con người, ông phê phán sự mê tín quỷ thần. - Quan niệm về chính trị - đạo đức Thứ nhất, Nho gia coi những quan hệ chính trị- đạo đức là những nền tảng của xã hội, trong đó quan hệ quan trọng nhất là quan hệ vua – tôi, cha – con và chồng – vợ (gọi là Tam cương). Nếu xếp theo “tôn ty trên- dưới” thì vua ở vị trí cao nhất, còn nếu xếp theo chiều ngang của quan hệ thì vua – cha – chồng xếp ở hàng làm chủ. Điều này phản ánh tư tưởng chính trị quân quyền và phụ quyền của Nho gia.

Thứ hai, xuất hiện trong bối cảnh lịch sử quá độ sang xã hội phong kiến, một xã hội đầy những biến động loạn lạc và chiến tranh, lý tưởng của Nho gia là xây dựng một “xã hội đại đồng”. Đó là một xã hội có trật tự trên, dưới, có vua sáng, tôi hiền, cha từ, con thảo, trong ấm, ngoài êm; trên cơ sở địa vị và thân phận của mỗi thành viên từ vua chúa, quan lại đến thứ dân. đó chính là thuyết chính danh (theo Khổng tử chỉ có một lối để phục hưng trật tự xã hội là thu xếp thế nào để cho vua ở địa vị của vua, thần ở địa vị của thần, dân ở địa vị của dân, như vậy thì vật nào ở địa vị chính danh của vật đó, trong xã hội ai cũng thực hiện đúng chính danh của mình thì xã hội ổn định.) Thứ ba, lấy giáo dục làm phương tiện chủ yếu để đạt tới xã hội lý tưởng “đại đồng”. Nền giáo dục Nho gia chủ yếu hướng vào việc rèn luyện đạo đức con người, mà chuẩn mực gốc là “Nhân”.

Những chuẩn mực khác như: Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Trung, Hiếu, v.v đều là những biểu hiện của Nhân. Thứ tư, Nho gia không có sự thống nhất quan điểm về vấn đề bản chất con người: + Mạnh Tử coi bản tính người vốn là thiện. Thiện là tổng hợp những đức tính của con người từ khi mới sinh: Nhân, Nghĩa, Lễ…Do đó, ông đề cao sự giáo dục để con người trở về con đường thiện với những chuẩn mực đạo đức có sẵn. + Tuân Tử lại coi bản tính người vốn là ác.

Mặc dù bản tính con người là ác, nhưng có thể giáo hóa thành thiện (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín…).Do đó, Tuân Tử chủ trương đường lối trị nước là kết hợp Nho gia với Pháp gia.Đạo gia (hay học thuyết về Đạo) Người sáng lập ra Đạo gia là Lão Tử (khoảng thế kỷ VI tr. Học thuyết của ông được Dương Chu và Trang Chu thời Chiến Quốc hoàn thiện và phát triển theo hai hướng ít nhiều khác nhau. Quan điểm về Đạo 17 Tieu luan “Đạo” là bản nguyên của vạn vật – tất cả từ Đạo mà sinh ra và trở về với cội nguồn của Đạo. “Đạo” là cái vô hình, hiện hữu là cái “có”, song Đạo và hiện hữu không thể tách rời nhau mà trái lại, Đạo là cái bản chất, hiện hữu là cái biểu hiện của Đạo.

Bởi vậy, có thể nói: Đạo là nguyên lý thống nhất của mọi tồn tại. “Đạo” là nguyên lý vận hành của mọi hiện hữu, nguyên lý ấy là “Đạo pháp tự nhiên”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Tài liệu triết học nâng cao cho sinh viên cao học không chuyên" cung cấp một cái nhìn sâu sắc về các khái niệm triết học phức tạp, giúp sinh viên cao học không chuyên có thể tiếp cận và hiểu rõ hơn về các lý thuyết và tư tưởng triết học. Tài liệu này không chỉ giúp nâng cao kiến thức mà còn phát triển khả năng tư duy phản biện, một kỹ năng quan trọng trong học tập và nghiên cứu.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết 3 tóm tắt luận án tiến sĩ tiếng anh ncs nguyễn khắc tấn, nơi cung cấp những tóm tắt hữu ích về các luận án tiến sĩ, hoặc tìm hiểu về Trắc nghiệm logic học đại cương đại học trà vinh, giúp bạn nắm vững các khái niệm logic cơ bản trong triết học. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ luật học nhận thức của sinh viên chuyên ngành tiếng anh về những trở ngại khi thuyết trình trong giờ học tiếng anh pháp luật tại đại học luật hà nội cũng sẽ mang đến cho bạn cái nhìn về cách thức sinh viên tiếp cận và vượt qua những thách thức trong học tập. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và phát triển kỹ năng tư duy của mình.