phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 4 chương, 11 tiết. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Những công trình liên quan đến một số vấn đề lý luận chung về giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên các trường đại học nói chung và sinh viên các trường đại học ở TP HCM nói riêng Những công trình nghiên cứu về đạo đức Đạo đức xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển không ngừng của lịch sử xã hội loài người. Tùy theo tính chất đặc thù của mỗi nước, mỗi dân tộc, quốc gia khác nhau, những quan niệm về ĐĐ, những chuẩn mực ĐĐ cũng khác nhau.
Ở từng thời kỳ lịch sử khác nhau những quan điểm, tư tưởng về ĐĐ cũng mang những nội dung khác nhau, đồng thời nội hàm của các khái niệm, phạm trù ĐĐ cũng xác định chính xác hơn với những chuẩn mực, tiêu chí riêng, do đặc điểm của xã hội đó quy định. Trong tác phẩm “Nguyên lý đạo đức cộng sản” [103] của A. Siskin (1961), tác giả đã nghiên cứu đạo đức (ĐĐ) theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin. Ông phân tích nguồn gốc của ĐĐ và cho rằng ĐĐ là một hình thái ý thức xã hội ( YTXH), đồng thời nhấn mạnh rằng khi nói đến ĐĐ, chúng ta đang đề cập đến cách cư xử hàng ngày của con người với nhau.
Luận điểm này là cơ sở giúp cho tác giả luận án có thể kế thừa để làm rõ khái niệm đạo đức và nguồn gốc hình thành của nó. Trên cơ sở nghiên cứu lịch sử ĐĐ nhân loại, G. Tác giả đã rút ra được những quy luật đặc thù của sự phát triển ĐĐ, khẳng định ĐĐ ra đời từ xã hội nguyên thủy, lúc bấy giờ con người lệ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên nhưng cũng đã bắt đầu thiết lập mối quan hệ và đề ra những quy định chung dùng để quản lý hành vi ĐĐ của con người. Đạo đức xuất hiện là do yêu cầu trong cuộc sống hàng ngày của con người.
Xã hội phát triển, các quy tắc và tiêu chuẩn của ĐĐ cũng theo đó mà tăng lên, trở nên đặc sắc và đa dạng hơn, đạo đức chỉ có ở con người, mang tính người. 9 Tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” [28] do Thành Duy chủ biên (1996) là một tài liệu quý giá nhằm nghiên cứu sâu ĐĐ học và tư tưởng của Hồ Chí Minh, đặc biệt là đạo đức cách mạng (ĐĐCM). Hồ Chí Minh đã luôn coi trọng GTĐĐ, không chỉ đối với cá nhân mà còn đối với người chiến sĩ cách mạng. Tư tưởng ĐĐ của Hồ Chí Minh đề cập đến nhiều đối tượng và bao quát mọi lĩnh vực trong cách ứng xử và các mối quan hệ xã hội, từ gia đình, cộng đồng nhỏ đến cộng đồng lớn hơn như quốc gia và quốc tế.
Tác phẩm nhấn mạnh giá trị cốt lõi và sức sống mạnh mẽ của tư tưởng ĐĐ, đặc biệt là ĐĐCM của Người. Trọng tâm của công trình này là nhấn mạnh việc rèn luyện ĐĐ. Theo Hồ Chí Minh, để trở thành con người mới, mỗi cá nhân cần phải có đủ cả đức và tài, hai yếu tố này luôn phải hòa quyện và bổ trợ lẫn nhau. Tài liệu này đã gợi mở hướng đi cho nghiên cứu tiếp theo, đặc biệt là trong việc phân tích vai trò của giáo dục và rèn luyện ĐĐ cho SV trong giai đoạn hiện nay.
Trong bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” [4], tác giả Lê Trọng Ân (2005) đã khẳng định giá trị và ý nghĩa của quan điểm ĐĐCM của Hồ Chí Minh. Tư tưởng này chứa đựng nhân sinh quan sâu sắc trong việc xây dựng nhân cách, lý tưởng, chuẩn mực lối sống của người chiến sỹ cộng sản. Quan điểm của Hồ Chí Minh là sự kết hợp chặt chẽ giữa: truyền thống và hiện đại; giữa thực tiễn và khoa học. Bài viết “Quan niệm đạo đức và giáo dục đạo đức trong nhà trường hiện đại” [58] của tác giả Đặng Thành Hưng (2012) đã làm sáng tỏ khái niệm ĐĐ và bản chất của nó.
Tác giả nhận định rằng bản chất của ĐĐ chính là GTĐĐ. Theo đó, để hình thành chuẩn mực ĐĐ, cần có sự tồn tại của các hiện tượng ĐĐ trong xã hội. Quá trình thực hiện và tuân thủ các chuẩn mực này sẽ làm cho ĐĐ phát triển. Song, theo thời gian, do sự phát triển của ĐĐ, các chuẩn mực cũng có thể thay đổi, những chuẩn mực mới của ĐĐ xuất hiện.
Như vậy, tài liệu này cung cấp nền tảng cho chúng tôi 10 kế thừa trong việc phân tích sự biến đổi của một số chuẩn mực ĐĐ, khi TTXH thay đổi. Trong bài “Giáo dục đạo đức tại trường đại học từ giảng dạy một mô - đun đạo đức đến giáo dục cho cuộc sống tốt đẹp” [134], các tác giả De Ruyter, D. & Schinkel, A (2017) đã khẳng định ĐĐ là một phần thiết yếu trong giảng dạy cho SV ở các TĐH, phân tích vai trò của ĐĐ và ĐĐ nghề nghiệp, theo đuổi mục tiêu thành công chỉ có thể đạt được trong một môi trường ĐĐ tốt. Bài viết “Tầm quan trọng của đạo đức trong giáo dục xã hội toàn cầu hóa hiện nay” [137] của A.
Josefovála (2016) đã làm rõ: sự biến động của thế giới hiện tại không ổn định gây ra nhiều xung đột và di chuyển xã hội chưa từng có: phân tích ĐĐ và hành vi ĐĐ: tầm quan trọng của môn học GDĐĐ. Từ đó tác giả khẳng định: sự biến đổi của thế giới ngày nay diễn ra nhiều xung đột, do đó hành vi ĐĐ trở nên quan trọng hơn, tạo ra nhân tính của chúng ta. Trong thế giới đa văn hóa hiện nay thì việc GDĐĐ là vô cùng cần thiết, nó là môn học không thể thiếu trong các cấp học, việc GDĐĐ là điều tất yếu. Công trình này là cơ sở để chúng tôi kế thừa làm rõ vai trò của việc GDGTĐĐ TTDT.
Công trình Giá trị và đạo đức trong giáo dục [139] của M. Souza (2021) đã khẳng định ba yếu tố: giáo dục, ĐĐ, giá trị là vô cùng quan trọng, đây là quá trình cơ bản của cuộc sống con người. Giáo dục xây dựng kiến thức giúp phát triển lý luận và năng lực phán đoán, chuẩn bị trí tuệ cho ĐĐ nghề nghiệp. ĐĐ dạy chúng ta biết xác định cái đúng, cái sai, các giá trị giúp hình thành tính cách cá nhân.
Ba yếu tố này là cơ sở, là điều kiện cần thiết của mỗi chúng ta. Do vậy, các yếu tố này có sự gắn kết mật thiết với nhau, quyết định sự tồn tại lẫn nhau. Đạo đức phải được khắc sâu trong HSSV nhờ vào việc giáo dục, hoạt động thực tế. Bài viết “Hệ giá trị đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam” [18] của Hà Thị Bắc và Trần Thị Điểu (2022) đã khẳng định rằng các GTĐĐ của gia đình Việt Nam đã giúp các gia đình vượt qua những biến cố và khủng hoảng xã hội.
Trong bối 11 cảnh hiện nay, khi TTXH thay đổi, những giá trị này cũng đã trải qua sự biến đổi. Sự thay đổi đó phản ánh sự thống nhất giữa việc bảo tồn, truyền thụ các GTĐĐ TTDT tích cực của gia đình, đồng thời tiếp nhận có chọn lọc những giá trị của gia đình hiện đại như quyền tự do cá nhân và tôn trọng lợi ích cá nhân. Tài liệu này sẽ là cơ sở để chúng tôi kế thừa và phân tích vai trò của các GTĐĐ truyền thống gia đình trong việc GDĐĐ cho SV. Những công trình nghiên cứu GTĐĐ TTDT Nghiên cứu về GTĐĐTT, trước tiên phải kể đến tác giả Trần Văn Giàu (1980) với cuốn sách “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” [41].
Cuốn sách này là tài sản quý giá, tâm huyết của tác giả được viết từ rất sớm vào những năm 70 của thế kỷ trước, lúc bấy giờ chưa có một tác phẩm nào nghiên cứu hoàn chỉnh về chủ đề giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc. Cuốn sách gồm 11 chương, trong đó 3 chương đầu, trình bày khái niệm cơ bản về giá trị tinh thần TTDT, từ chương 4 đến chương 10 là phần trọng tâm của cuốn sách, tác giả làm rõ 7 đức tính cao cả của người dân Việt Nam. Đây là những căn cứ giúp nghiên cứu sinh kế thừa để xác định các GTĐĐ TTDT cần giáo dục cho SV. Cuốn sách “Giá trị và giá trị Châu Á” [98] của Hồ Sĩ Quý (2005) đã làm rõ những vấn đề về giá trị, giá trị Châu Á.
Tác giả cho thấy đức tính cần cù, hiếu học, tôn trọng gia đình … là giá trị chung của toàn nhân loại. Sự khác nhau của giá trị ở mỗi quốc gia là do vị trí của các giá trị trong bảng hệ giá trị của các quốc gia đó. Chẳng hạn người Á Đông coi cần cù, yêu lao động là giá trị hàng đầu, người Mỹ coi tự lực cánh sinh là giá trị cao quý nhất. Về giá trị cơ bản là giống nhau, sự khác nhau đó chính là giá trị quan.
Tác giả Bùi Thanh Thủy, trong bài viết “Kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa” (2009), đã làm rõ các giá trị văn hóa truyền thống của DTVN và nhấn mạnh ý nghĩa của chúng đối với sự phát triển cho mỗi dân tộc. Những GTĐĐ truyền thống này được xem như "liều thuốc đề kháng" 12 hiệu quả trước các luồng phản giá trị văn hóa từ bên ngoài. Tài liệu này cung cấp nền tảng quan trọng để chúng tôi tham khảo trong việc phân tích, đánh giá các GTĐĐTT của DTVN hiện nay. Các tác giả Cao Thu Hằng, Nguyễn Thị Thọ ( 2017) trong tác phẩm “Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam” [47] đã nêu lý luận chung về ĐĐ, GTĐĐ TTDT, nêu nội dung một số GTĐĐTT Việt Nam.
Tác phẩm làm sáng rõ các khái niệm cơ bản: ĐĐ, truyền thống, ĐĐTT, giá trị và GTĐĐTT, cơ sở hình thành GTĐĐTT Việt Nam. Bài viết “Giá trị con người trong hệ giá trị văn hóa Việt Nam” [26] của tác giả Nguyễn Văn Dân (2022) đã làm rõ hệ tiêu chuẩn giá trị văn hóa Việt Nam, hiện thực hóa các tiêu chuẩn giá trị đặc thù như: tình yêu quê hương, đồng bào, lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh chống cái ác, cái xấu, nêu bật hình tượng con người xây dựng đất nước, hình tượng anh hùng trong đấu tranh bảo vệ đất nước, hình tượng tâm hồn cao đẹp, hình tượng tâm hồn bi tráng. Ngày nay, xuất hiện thêm những giá trị mới như: tư tưởng dân chủ, ý thức công bằng, dân chủ, ý thức công dân, ý thức sinh thái, tinh thần phản biện xã hội.