1 LỜI NÓI ĐẦU Logic học là khoa học nghiên cứu những quy luật và hình thức của tư duy nhằm nhận thức đúng đắn hiện thực khách quan ở không gian thời gian nhất định. Nghiên cứu logic học giúp ta nâng cao trình độ tư duy, tạo ra thói quen suy nghĩ, lập luận chính xác. Tri thức cơ bản của logic học còn giúp chúng ta nắm được trí thức mới một cách thuận lợi; giúp cho việc phát hiện sai lầm logic của bản thân và của người khác, tìm ra con đường ngắn nhất và đúng đắn để nâng cao trình độ tư duy của mình cũng như để tránh khỏi sai lầm logic do vô tình hay hữu ý phạm phải. Với vai trò đó nên logic học có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự hình thành và phát triển tư duy logic đúng đắn, sáng tạo cho con người.
Đối với sinh viên, thời gian học tập ở trên lớp có hạn, vì vậy, việc học tập môn logic học đòi hỏi phải có những tài liệu phù hợp giúp cho sinh viên thuận lợi hơn trong quá trình học bài trước khi lên lớp và ôn lại bài sau khi nghe giảng. Để đáp ứng yêu cầu bức thiết của người học tôi đã biên soạn cuốn tài liệu này nhằm đáp ứng nhu cầu cần thiết của học sinh và sinh viên hiện nay. Do khả năng có hạn nên cuốn sách này có thể còn nhiều hạn chế. Tác giả rất mong bạn đọc góp ý để tác giả sẽ hoàn thiện trong những lần xuất bản sau.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn. Tieu luan 2 BÀI 1: KHÁI LUẬN CHUNG VỀ LOGIC HỌC 1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LOGIC HỌC 1.1 Đối tượng nghiên cứu của logic học 1.2 Phương pháp nghiên cứu của logic học 2. LỊCH SỬ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CƠ BẢN CỦA LOGIC HỌC Ngay từ thời cổ đại, nhà triết học Hy Lạp Heraclit đã sử dụng thuật ngữ “logos” để nói lên sự chặt chẽ, sự mạch lạc, có quy luật của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.
Và đến khi những tính chất đó được hiểu trong lĩnh vực tư duy và nó trở thành một khoa học độc lập so với triết học thì được gọi là logic học. Bởi vậy, logic học được hiểu như là một khoa học nghiên cứu những quy luật và hình thức của tư duy nhằm nhận thức đúng đắn hiện thực khách ở không gian thời gian xác định.Thời kỳ cổ đại Các nhà triết học, toán học thời kỳ cổ đại như Pitago, Heraclit, Democrit, Aristote đã bàn đến một số vấn đề như: hình thức ngôn ngữ, quá trình nhận thức, các quy tắc định nghĩa khái niệm, suy luận… từ thế kỷ VI trước công nguyên. Nhà toán học thời kỳ cổ đại, Pythagore đã bàn đến cơ cấu quá trình nhận thức, hình thức ngôn ngữ của tư duy. Nhưng bản thân Pythagore là một nhà toán học nên ông chỉ quan tâm đến mặt định lượng, đại lượng mà không quan tâm tới định tính cho nên logic học của ông chỉ dừng lại bề ngoài theo khuynh hướng hình học hóa.
Tieu luan 3 Còn nhà triết học Hy lạp cổ đại, Heraclit cùng với Democrit đã bàn đến cơ cấu quá trình nhận thức. Heraclit là một nhà triết học cho nên logic của ông chủ yếu là logic của sự vật. Democrit là tác giả cuốn “Bàn về logic học” là người sáng lập ra logic quy nạp, đưa ra các định nghĩa khái niệm, thể hiện rất rõ trong học thuyết nguyên tử, chống lại diễn dịch ngụy biện của Pythagore. Quy nạp của Democrit chỉ là tập hợp tài liệu có tính duy vật kinh nghiệm.
Aristote được xem như người khởi đầu cho logic học. Ông có nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ với tư cách là hình thức và công cụ của tư duy, sau này tập trung lại thành tác phẩm Organon. Ông đã hệ thống hóa những hình thức cơ bản của tư duy như khái niệm, phán đoán, suy luận … 2. Thời kỳ phục hưng Vào thời kỳ phục hưng, chủ nghĩa tư bản bắt đầu phát triển, các ngành khoa học phân hóa sâu sắc, ranh giới rõ ràng.
Những đại biểu nổi bật ở thời kỳ này như: F. Thời kỳ này, có cuộc đấu tranh giữa khoa học với chủ nghĩa kinh viện và giáo lý của Thiên chúa giáo đã sử dụng logic diễn dịch của Aristote xuyên tạc theo khuynh hướng mục đích luận, thần học. Để chống lại sự ngụy biện đó, các nhà khoa học đã hệ thống hóa, chi tiết cụ thể hơn, tạo nên các hệ thống phương pháp nhận thức mới.Bacon được coi như là logic xác xuất. Công lao to lớn của F.
Bacon là ông chỉ ra sự khác nhau giữa quy nạp thông thường và quy nạp khoa học. “Quy nạp không phải là con kiến mà là con ong”. Ông đã bàn đến logic học trong tác phẩm Organon mới (New organon) tức là vẫn dựa trên hệ thống của Aristote, xây dựng logic quy nạp (từ phương pháp thực nghiệm) với hy vọng coi logic học là phương pháp để phát minh koa học. Dĩ nhiên, đây là một ảo tưởng, vì logic chỉ có vai trò xác nhận rằng đó có phải là phát minh khoa học hay không mà thôi.Descartes xây dựng logic theo ý nghĩa khoa học, logic ứng dụng.
Tieu luan 4 Dựa vào suy luận diễn dịch của Aristote, R.Descartes đã xây dựng logic theo mẫu diễn dịch toán học thể hiện rất rõ trong giải tích. Ông là người đưa ra những quy tắc mà tư tưởng phải tuân theo để đạt tới chân lý.Leibniz, đã dựa trên tư tưởng logic toán của R.Descartes xây dựng logic mệnh đề thuần túy – logic toán, xây dựng hệ thống nhị phân, sau này chúng ta thấy rõ trong đại số hàm Bool.Kant nhà khoa học triết học cổ điển Đức, dựa trên logic của Aristote đã xây dựng logic tiên nghiệm. Ông cho rằng logic của Aristote chỉ quan tâm đến hình thức mà không quan tâm đến nội dung. Cho nên logic mới của ông có những yếu tố biện chứng, thể hiện rất rõ khi ông đưa ra 4 atonomi.
Đại biểu vĩ đại nhất của triết học cổ điển Đức, G. Ông phê phán logic tiên nghiệm của Kant, nhưng ông cũng phê phán cả logic hình thức. Ông đã đồng nhất logic hình thức với tư duy siêu hình. Ông đã xây dựng logic biện chứng hoàn chỉnh với tư cách là phương pháp triết học.
Thời kỳ hiện đại C.Ăngghen là hai đại biểu góp phần vạch rõ ranh giới các ngành khoa học trong đó có logic học. Hai ông đã phê phán phép biện chứng duy tâm của G.Hegel và cải tạo nó thành phép biện chứng duy vật trong triết học, không đồng nhất logic hình thức với tư duy siêu hình, ứng dụng logic biện chứng một cách khoa học nhất trong bộ “Tư bản”.Leibniz, các nhà loigic học có khuynh hướng toán học hóa như Bool, Preghe, Rusell, Hilmbert và sau năm 1960 hình thành một dạng logic mới – logic phi cổ điển, như logic dạng thức, logic kiến thiết, logic xác xuất, logic lưỡng trị, logic đa trị …. LOGIC HÌNH THỨC VÀ LOGIC BIỆN CHỨNG 3.Quan niệm triết học Mác về logic Tieu luan 5 Thuật ngữ logic được hiểu theo ba nghĩa. Thứ nhất, dùng để chỉ mối liên hệ có tính tất nhiên có tính quy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan, logic này được gọi là logic khách quan.
Các khoa học cụ thể chủ yếu nghiên cứu logic này, như hóa học, vật lý, triết học … và phần lớn trong cuộc sống chúng ta thường dùng logic khách quan này để làm căn cứ giải thích các sự kiện. Thứ hai, dùng để chỉ mối liên hệ có tính tất yếu, có tính quy luật giữa các tư tưởng của con người, xem xét chúng với tư cách là sự phản ánh chân thực hiện thực khách quan thì gọi là logic chủ quan. Với ý nghĩa này chủ yếu là logic học và toán học nghiên cứu. Thứ ba, dùng để chỉ một khoa học nghiên cứu logic chủ quan và nghiên cứu sự chi phối giữa logic học khách quan với logic chủ quan.
Với ý nghĩa này thì logic được gọi là logic học. Từ việc tìm hiểu thuật ngữ logic cho thấy rằng, nhiêm vụ của logic học là nghiên cứu logic chủ quan, tư duy đúng đắn. Các khoa học cụ thể nghiên cứu logic khách quan như vật lý, hóa học, sinh học, tâm lý, thần kinh học, điều khiển học và ngay cả những ngành có nghiên cứu tư duy như phép biện chứng, nhận thức luận triết học cũng vậy. Trên cơ sở đó có thể định nghĩa logic học như sau: Logic học là khoa học nghiên cứu tư duy với tư cách là quá trình phản ánh chân thực thế giới khách quan.
Định nghĩa này giúp phân biệt ranh giới giữa các ngành khoa học bởi có nhiều ngành khoa học khác cũng nghiên cứu tư duy, có thể nghiên cứu cấu trúc, sự hình thành, chức năng của tư duy…chứ không phải là sự phản ánh thế giới khách quan như logic học. Mối quan hệ giữa logic hình thức và logic biện chứng Logic học nghiên cứu các hình thức phản ánh của tư duy có một nội dung phẩm chất xác định, có hai ngành là logic hình thức và logic biện chứng. Tuy Tieu luan 6 nhiên, logic hình thức và logic biện chứng tương đối độc lập, xét về mọi phương diện, chúng có quan hệ bổ sung cho nhau trong quá trình nhận thức. Xét về tính chất: Logic hình thức nghiên cứu tư duy tĩnh, bất động, chính xác; còn logic biện chứng nghiên cứu tư duy động, nghiên cứu phạm trù phản ánh sự vận động, chuyển hóa của thế giới khách quan.
Trong hình học Euclide định nghĩa về đường thẳng theo logic hình thức. Đường thẳng là tập hợp điểm cùng một hướng vô hạn cả hai đầu, không chiều dày, không màu sắc mà trên thực tế không có con đường nào như vậy. Còn khái niệm đường quốc lộ số 1 được định nghĩa theo logic biện chứng hàm ý đây là mốc bắt đầu của một chuỗi khái niệm (đường) tiếp theo. Dĩ nhiên, đây là khái niệm phản ánh sự chuyển hóa của sự vật; còn khái niệm không có sự chuyển hóa thì chỉ là sự ngụy biện.
Xét về đối tượng: Cả logic hình thức và logic biện chứng đều nghiên cứu tư duy đung đắn, thuộc về logic học. Logic hình thức nghiên cứu tư duy chính xác, còn logic biện chứng nghiên cứu tư duy biện chứng. Logic chủ yếu nghiên cứu logic chủ quan. Logic hình thức chỉ nghiên cứu khái niệm trong một phẩm chất xá định không phải tất cả mọi phẩm chất.
Xét theo quá trình: logic hình thức nghiên cứu một giai đoạn nhận thức trong nhiều giai đoạn phản ánh sự vật. Logic biện chứng nghiên cứu nghiên cứu sự phản ánh sự vật như một quá trình, một chỉnh thể.