Chương i Đối tượng và ý nghĩa của logic học 1. THUẬT NGỮ LOGIC HỌC Thuật ngữ /ogic (ogie) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là /ôgôt (logos). Từ này lần đầu tiên được Héraclité (Héraclité, 540 - 480 tCN) néu ra trong tác phẩm triết học của mình. Ông dùng nó để chỉ những quy luật vận động và biến hoá phổ biến của tổn tại.
Sau khi từ /ôgô ra đời, các nhà triết học và logic học đã sử dụng nó với những nội dung khác nhau. Chẳng hạn, phái Xtôích (Stoic) — một trường phái triết học Hy Lạp Cổ đại được Zênon khởi xướng — đã dùng từ /ágôi để chỉ lý tính hay vận mệnh của vũ trụ. Sau đó, phái Platôn (Platôn, 427 - 347 tƠN) mới và đạo Thiên chúa từ thời Trung cổ đã dùng từ /âgôt để chỉ ý niệm hay một lực lượng huyền bí sáng tạo ra giới tự nhiên. Tiếp theo, Hêghen Œ.Hegel, 1770-1831) đã dùng nó để chỉ ý niệm tuyệt đối — một yếu tố đầu tiên sáng tạo ra thế giới hiện thực.
Ké thừa những yếu tố hợp lý và phê phán những yếu tố sai lầm - trong những quan niệm ở trên, các nhà triết học và logic học mácxít đã sử dụng thuật ngữ iogie theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất: chỉ những mối liên hệ tất yếu của các sự vật, hiện tượng hoặc giữa các mặt ở trong cùng một sự vật hiện tượng. Tức là chỉ quy luật vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội. Theo nghĩa ấy, nó là cái logic khách quan.
Chẳng hạn, sự tương tác hấp dẫn giữa vật này với vật khác được thể hiện bằng công thức F=k. 2, Hay sự tác động lẫn nhau giữa r lực lượng sẵn xuất và quan hệ sản xuất trong một phương thức sản xuất; sự biến đổi từ một phương thức sản xuất này sang một phương thức sản xuất khác đều là một “quá trình lịch sử tự nhiên”. Hay mối lién hé gitta “déng hoa” va “di hoa” 1A quy luật sống còn của động vật và thực vật. Nghĩa thứ hai: chỉ quy luật của sự liên ' hết, uận động uà phát triển tư duy nhằm đạt tới chân lý.
Tức là các bộ phận hợp thành của tư duy phải được lập luận, được liên kết với nhau, vận động và phát triển theo quy luật đó để phản ánh đúng đắn bản chất của sự vật trong thế giới hiện thực. Theo nghĩa thứ hai này thì nó là cái logie chủ quan, logic của tư duy, của lập luận để tìm ra chân lý. Đương nhiên giữa logic khách quan và logic chủ quan cỗ mối quan hệ tác động qua lại với nhau. Trong mối quan hệ đó thì logic khách quan đồng vai trò quy định logie chủ quan.
Ngược lại logic chủ quan là sự phần ánh của logie khách quan vào trong đầu óc của con người. Nó có tính độc lập tương đối so với logic khách quan. Việc tìm hiểu ý nghĩa thứ hai của thuật ngii logic đã nêu ra ở trên là một trong những cơ sở quan trọng để hình thành thuật ngữ Íogic học. Nếu không bám sát vào nghĩa đó thì không thể hiểu đúng đắn nội dung cơ bản của thuật ngữ 7ogie học.
Trên thực tế, đã có một số quan niệm cho rằng “logic học là khoa học nghiên cứu về tư duy” hay “logie học là khoa học nghiên cứu quy luật của sự vật”. Những định nghĩa đó, những quan niệm đó về logic học là không đúng đắn, là sự xa rồi ý nghĩa thứ hai của từ /ogic. Kiên trì theo nghĩa thứ hai của từ /ogie, V. Lênin đã chỉ ra rằng: “Logïc học là khoa học nghiên cứu về tư đuy trong tính tất yếu của nớ”.Ð Như vậy có thể hiểu một cách khái quát ?ogic học là bộ môn khoa học nghiên cúu những quy luật của tử duy nhằm đạt tới chân ly.
Trong lịch sử phát triển của triết hoc va logic hoc, đối với các nước khác nhau, người ta sử dụng thuật ngữ /ogie học với những tên gọi khác nhau. Chẳng hạn, ở thời Cổ đại, người Ấn Độ gọi nó là nhân mình học. Đó là môn khoa học nghiên cứu những nguyên nhân dẫn đến sự lập luận rõ ràng, trong sáng, mạch lạc, khúc triết. Người Trung Quốc, trước năm 1960, gọi là luận lý học, sau đó gọi là Lư tạp.
6 Nga goi la logica. Người Pháp lại gọi là /ogigue. Còn tại miền Bắc nước ta, trước năm 1960 và tại miền Nam, trước năm 1975 gọi là luận ly hoc. Sau thai gian đó, +2 V.
Lênin, Toản tập, NXB Tiến Bộ Mát-xcơ-va 1981. 6 chúng ta thống nhất một tên gợi chung cho đến ngày nay là iogie học, Đó là môn khoa học nghiên cứu những hình thức, quy luật của tử duy nhằm đạt tới chân lý. TU DUY, TU DUY LOGIC VÀ NGÔN NGỮ 2. Tu duy va tu duy logic @) Tu duy Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức.
Đó là giai đoạn nhận thức lý tính, tức là giai đoạn được hình thành và phát triển trên cơ sở các tài liệu do giai đoạn nhận thức cảm tính đem lại. Về bản chất thì tư duy là sự phản ánh gián tiếp, trừu tượng va khái quát những đặc tính bản chất của các sự uật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Việc xác định tư duy là sự phản ánh, cũng có nghĩa thừa nhận tư duy là cái có sau các sự vật; vật chất là cái có trước, tổn tại khách quan độc lập đối với tư duy, ý thức của con người. Tuy nhiên tính phan ánh của tư duy không phải là sự phản ánh trực tiếp mà nó là sự phần ánh giớn tiếp.
Bởi vì, tư duy phải thông qua giai đoạn nhận thức cảm tính — giai đoạn con người sử dụng các giác quan để trực tiếp tác động vào sự vật — mới phần ánh được thế giới hiện thực. Hơn thế, sự phần ánh của tư duy không chỉ là gián ziếp mà còn là trừu tượng. Bởi lẽ, sự phần ánh bằng tư duy bao giờ cũng có xu hướng giữ lại những đặc điểm, thuộc tính bản chất: loại bố những đặc điểm, những thuộc tính không bản chất của các sự vật. Như vậy, trong tư duy chỉ chứa đựng những đặc tính bản chất của các sự vật.
Những đặc tính bản chất đó làm nên nội dung của tư duy. Do đó, người ta thường gắn đặc trưng này với nội dung của tư duy và gọi là tư duy trừu tượng. Ngoài tính gián tiếp và tính trừu tượng, sự phản ánh của tư duy còn mang fínb khái quát. Bởi vì sự phần ánh này luôn luôn rút ra những đặc tính bản chất, giống nhau ở trong lớp các sự vật cùng loại.
Ví dụ: Thuộc tính "chia hết cho 2" được rút ra từ trong lớp sd chan (gém 2, 4, 6, 8,. ) và thuộc tính đó làm nên bản chất của khái niệm "số chẵn". Hoặc nhờ có tư duy mà thuộc. tính "đòng nước chảy liên tục, tự nhiên trên lục địa" được lấy ra từ các con sông cụ thể và nó tạo thành bản chất của khái niệm "sông".
Như vậy, tính gián tiếp, tính trừu tượng và tính khái quát là những đặc tính phần ánh của tư duy. Các đặc tính này có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau. Tổng hợp các đặc tính đó trong quá trình phan ánh cái bản chất của các sự vật tạo thành cái bản chất của tư duy con người trong quá trình tìm hiểu hiện thực khách quan. Xét về phương điện cấu trúc thì tư đuy tổn tại ở hai trạng thái là nội dụng và hình thức.
Nội dung của tư duy là kết quả của sự phản ánh những đặc tính bản chất của các sự vật, hiện tượng vào trong đầu óc của con người. Marx, 1818- 1883) thì nó là sự đi chuyển của các sự vật vào trong đầu óc của con người và được cải biến ở trong đó. Hay như Lênin (V. Lénin, 1870 - 1924) đã coi đó là "hình ảnh chủ quan của thế giớt khách quan".
Nội dung ấy của tư duy luôn luôn vận động và biến đổi để phản ánh kịp thời sự vận động và biến đổi của các sự vật, hiện tượng. Sự vận động, biến đổi và phát triển đó diễn ra dưới tác động của những quy luật nhất định. Chẳng hạn như những quy luật sau đây trong tư duy: quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, quy luật từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại; quy luật phủ định của phủ định. Ngoài ra, nó còn chịu sự chi phối của nguyên tắc lịch sử, nguyên tắc thống nhất giữa logic và lịch sử, nguyên tấc đi từ trừu tượng đến cụ thể.
Toàn bộ nội dung của tư duy và những quy luật, những nguyên tắc ấy hợp thành đối tượng nghiên cứu của logic biện chứng. Đề cập đến góc độ này, trong tác phẩm Bứi ký triết học V. Lênin đã viết: “Logic khéng phải là học thuyết uê những hình thúc bên ngoài của tử duy, mà là học thuyết uê những quy luật phát triển của "tất thay moi su vat vat chat, tự nhiên 0ò tỉnh thân", tức là học thuyết uê những quy luột phát triển của toàn Bộ nội dung cụ thể của thế giới va nhộn thúc thế, giới, tức là sự tổng kết, tổng số, kết luận của lịch sử nhận thức thế giới"), Đồng thời với nội dung tư duy còn có hình thức của nó. Hình thức của tư duy là kết cấu hay cấu trúc bên trong của nó, bao gồm các bộ phận hợp thành như khái niệm, phần đoán, suy luận.
Vi du: Mỗi một khái niệm như "quyển sách" hoặc "cái bàn". tuy phản ánh về các sự vật khác nhau, có nội dung khác nhau nhưng bao giờ chúng cũng chứa đựng một số lượng nhất định các đặc tính bản chất của đối tượng. Những đặc tính đó tạo nên nội hàm của khái niệm.I Lênin, Toản tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, t20, tr. 8 Đổng thời mỗi khái niệm đều phản ánh một số lượng các đối tượng (các sự vật, hiện tượng) nhất định, tổn tại trong thế giới hiện thực.
Tập hợp các đối tượng ấy tạo thành ngoại điên của khái niệm. Như vậy, chính nội hàm và ngoại diên là hai bộ phận hợp thành cấu trúc của khái niệm — một hình thức cụ thể của tư duy. Hay khi chúng ta khẳng định "Hà Nội là thủ đô của Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa. Việt Nam" và "Hàng hoá là sản phẩm của quá trình sẵn xuất".
Ở cả hai sự khẳng định trên ta thấy mặc đù chúng có các nội dung khác nhau song chúng lại có cùng một cấu trúc. Đó là cùng khẳng định một đặc tính xác định của một đối tượng cụ thể.