CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA DE TÀI 1. Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu thái độ: Người đầu tiên nghiên cứu về thái độ là A. Trong các tác phâm của mình như “Chương trình nghiên cứu nhân cách trong moi quan hệ với môi trường” (1912), rồi sau đó là “Tâm lý học đại cương và thực nghiệm” (1912), “Bút ký khoa học về tính cách” (1916) và “Phân loại nhân cách” (1917, 1924) A. Lagiurxki đã đề cập đến khái niệm thái độ chủ quan ở con người với môi trường.
Theo ông đời sống tâm lý thực của con người được chia thành 2 lĩnh vực: - Cái tâm lý bên trong: là cơ sở bẩm sinh của nhân cách, bao gồm khí chất, tính cách và một loạt các đặc điểm tâm sinh lý khác. - Cái tâm lý bên ngoài: là hệ thống thái độ của nhân cách với môi trường xung quanh. Như vậy, thái độ cá nhân, theo như A. Lagiurxki , là sự biểu hiện ra bên ngoài của cái tâm lý, phản ứng với sự tác động của môi trường xung quanh.
Ông hiểu thái độ với môi trường xung quanh theo nghĩa rộng, bao gồm thái độ với giới tự nhiên, với sản phẩm lao động, với những cá nhân khác, với các nhóm xã hội và với những giá trị tinh thần. Trong hệ thống thái độ chủ quan, A. Lagiurxki đặc biệt coi trọng thái độ của nhân cách đối với lao động, với nghề nghiệp, với sở hữu, với người khác và với xã hội [19, 258]. Nghiên cứu thai độ ở các nước phương Tây.
Vẫn đề thái độ (attitude) lần đầu tiên đặt ra trong tâm lý học phương Tây bởi W. Znaniecki vào năm 1918 va từ đó van đề thái độ được đặt vào một vi trí trọng tâm của các nhà khoa học. Trong nghiên cứu cua mình, nha tâm lý học xã hội Liên Xô P. Sikhirev đã chia lịch sử nghiên cứu thái độ ở phương Tây ra làm ba thời kỳ chính.
- Thời kỳ thứ nhất kéo dài từ năm 1918 đến Chiến tranh thé giới thứ hai: Có thể nói đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ các nghiên cứu về thái độ. Znaniecki đã khởi đầu nghiên cứu về thái độ của những người dân Ba Lan khi họ di cư sang Mỹ, biểu hiện qua sự thích ứng của họ với điều kiện môi trường mới. Ở giai đoạn này, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nghiên cứu định nghĩa, cấu trúc chức năng của thái độ và mối quan hệ của nó với hành vi (G. Công trình nghiên cứu thực nghiệm gây chú ý trong giai đoạn nay là sự phát hiện ra “nghịch lý La Piere” [29], biéu thị sự không nhất quán giữa nhận thức và hành vi.
- Thời kỳ thứ 2 kéo dài từ Chiến tranh thé giới thứ hai đến cuối những năm 1950: Thời kỳ này, các nghiên cứu về thái độ tập trung chú ý tìm hiểu, lý giải những hoài nghi về vai trò của thái độ trong việc chi phối hành vi (H. Vi nhiéu lý do chủ quan và khách quan như do chiến tranh, do bế tắc trong công việc lý giải các nghịch lý nảy sinh trong quá trình nghiên cứu nên số lượng nghiên cứu giảm sút đáng kể. Tuy nhiên trong giai đoạn cũng đã nỗi lên một số tên tuổi như Liker, Sank, G. - Thời kỳ thứ ba từ cuối những năm 1950 cho đến nay: Có thé nói đây là thời kỳ bùng nổ của các nghiên cứu về thái độ ở phương Tây.
Trong tâm lý học xã hội van đề thái độ có vị trí xứng đáng. Van đề thường được dé cập đến trong giai đoạn này là những quan niệm mới về định nghĩa thái độ, cấu trúc và chức năng của nó. Cũng ở thời kỳ này, nhiều học thuyết đã được hình thành làm cơ sở lý luận dé lý giải quan hệ như học thuyết: “bát dong nhận thức giữa thái độ và hành vi”(Leon Festinger), thuyết “tự thể hiện”, thuyết “tu tri giác” (Parye Beny), các phương pháp nghiên cứu sự hình thành và thay đổi thái độ như: thang đo thái độ (The F-Scale- thang đo F) đo các quan điểm phát xít, thang đo quan điểm giáo điều (The Dogmatism Scale), phương pháp đo thái độ gián tiếp qua các chỉ số sinh lý như phương pháp điện cơ mặt; kỹ thuật 14n từng bước (food in the door) của Jonathan Freedman và Scott Fraser (1966), hay các ky thuật nghiên cứu thái độ như: kỹ thuật Bogus pipeline (đường ống giả vờ) của Edward Jones và Harold Sigall (1971). Xu thé chung trong nghiên cứu thái độ ở phương Tây là nhằm giải quyết những vấn đề trong thực tiễn như vận động tranh cử, bầu cử, tiếp thi, tuyên truyền, bảo vệ môi trường, chữa bệnh.
cũng như việc nghiên cứu các dạng thái độ đã định hình sẵn dé có thé dự báo hành vi của cá nhân khi họ vấp phải các trở ngại, khó khăn. Khi bình luận về các công trình nghiên cứu ở phương Tây, các nhà tâm lý học Xô Viết P. Petrovxki đã đưa ra những khang định sau: - Số lượng công trình và các phương pháp cụ thé dé nghiên cứu về thái độ ngày càng được công bồ nhiều hơn. - Sự bé tắc về phương pháp luận đã dẫn tới không tìm được cơ sở khách quan của các thái độ; các số lượng thu được từ nghiên cứu đều được lý giải bang cách quy về thái độ nhất định.
Có thé nói việc nghiên cứu, kiến tạo nên các mẫu về “attitude” trong tâm lý học phương Tây ở những tình huống, điều kiện môi trường khách quan cụ thé chỉ có thé giúp cho các nhà nghiên cứu hệ thống hoá số liệu thu thập được của mình dựa vao thái độ va dự báo hành vi có thé xảy ra theo “mdu” nào đó. Nói cách khác, con người mãi mãi chỉ là thực thê sinh học, đơn vị hành vi của họ chỉ là những bản năng thói quen, các khuôn mau, tình cảm,.mà không phải là nhân cách, không có thành phần ý thức trong điều khiến hành vi, thái độ của mình. Điều này hoàn toàn xa lạ với quan điểm của tâm ly học hoạt động cho rằng: về thực chất, sự hình thành và phát triển nhân cách, hệ thống động co, thái độ chủ quan của cá nhân đồng thời cũng là sự hình thành và phát triển ý thức của họ.2 Nghiên cứu thái độ ở Liên Xô. Trong tiếng Nga thuật ngữ thái độ mang nội hàm kép: ngoài nghĩa thái độ, còn có nghĩa là các môi quan hệ trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
Do vậy, khi dùng thuật ngữ này tương đương với thuật ngữ attitude (thái độ) trong tiếng Anh, các tác giả còn sử dụng thuật ngữ “tâm thế xã hội” và sau này B. Lomov gọi là “thái độ chủ quan của cá nhân”. Những nghiên cứu về thái độ ở Liên Xô được bắt đầu sớm hơn so với ở phương Tây. Tiếp theo những công trình nghiên cứu thái độ do A.
Lagiurxki khởi xướng, V. Miaxisev (1892- 1973), nhà tâm lý học Xô Viết cũng đã bắt đầu từ các nghiên cứu này nhưng trên lập trường, quan điểm của tâm lý học hoạt động, ông đã xây dựng nên “ học thuyết thái độ nhân cách”. Về thực chất, học thuyết là tô hợp các khái niệm về mặt lý luận, cho rằng, hạt nhân tâm lý nhân cách là hệ thống trọn vẹn mang tính cá thể của các thái độ có ý thức- chọn lọc, mang tính giá trị chủ quan đối với hiện thực khách quan. Hệ thong thái độ được hình thành theo cơ chế chuyên dich “từ ngoài vào trong”, thông qua kinh nghiệm tác động qua lại (do hoạt động và giao tiếp) với những người khác trong điều kiện xã hội mà chủ thể đang sống và sinh hoạt.
Miaxisev thì chính hệ thống thái độ nhân cách quyết định đặc điểm cảm xúc, việc tri giác hiện thực khách quan và cũng như sự phản ứng trong hành vi với những tác động từ bên ngoài. Tất cả các tổ chức cấu thành tâm lý người, từ những thành phần đơn giản nhất đến những cấu thành phức tạp nhất đều có liên quan với thái độ đưới một hình thức nào đó. Trong học thuyết thái độ nhân cách, V. Miaxisev còn đề cập đến việc phân loại thái độ.
Theo ông, thái độ bao gồm 2 loại: tích cực (dương tính) và tiêu cực (âm tính). Các kinh nghiệm âm tính hay dương tính trong quan hệ với những người xung quanh là cơ sở dé hình thành hệ thống thái độ tương ứng trong nhân cách. Như vậy, theo V. Miaxisev, thái độ được xác định như là khía cạnh của các mối quan hệ, liên hệ mang tính chủ thể bên trong có chọn lọc của cá nhân với bức tranh muôn màu muôn vẻ của hiện thực khách quan.
Thái độ là điều kiện khái quát hoá bên trong của các hành động ở con người. Điều đó có thê thấy rằng, với học thuyết thái độ nhân cách đã được tiếp thu của A. Miaxisev đã đưa quan điểm hoạt động vào xem xét và giải quyết vấn đề nghiên cứu theo hướng khả thi hơn. Miaxisev lại cho rằng tất cả các hoạt động tâm lý hiểu theo nghĩa rộng có thể xem như một dạng nào đó của thái độ, việc mở rộng quan niệm như vậy là thiếu cơ sở khoa học.
Nhưng có thê khăng định học thuyết thái độ nhân cách có những đóng góp to lớn làm cơ sở cho việc nghiên cứu thái độ theo quan điểm hoạt động. Một cách tiếp cận khác, phục vụ cho việc nghiên cứu thái độ của các nhà tâm lý học Xô Viết trước đây là các công trình nghiên cứu của trường phái tâm thé D. Uznadze, tâm thé là “sự mô phỏng trọn vẹn của chủ thể, sự săn sang tri giác các sự kiện và sự xác định hoàn thiện về hướng của hành vi”. Tâm thế là cơ sở của tính tích cực có sự lựa chọn, có chủ định.
Xuất phát từ vai trò, vị trí của tâm thế trong hoạt động, tâm thế được xem như trạng thái vô thức, nảy sinh khi có sự “hội ngộ” của hai yếu tố: nhu cầu và hoàn cảnh, điều kiện thoả mãn nhu cầu. Chính điều này đã khiến nhiều đồng nghiệp đã phê phán ông. Trong quan niệm về tâm thế, D. Uznadze chỉ đề cập đến quá trình hiện thực hoá các nhu cầu sinh lý đơn giản mà không tính đến các hình thức hoạt động phức tạp của các yếu tố xã hội trong việc quy định hành vi con người, cũng như vai trò của quá trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội.
Tuy vậy vẫn phải thừa nhận rang học thuyết tâm thé của D. Uznadze đã đóng một vai trò phương pháp luận khoa học cụ thé cho nhiều lĩnh vực chuyên môn của tâm lý học. Sau nay học trò của D.