CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1. Năng lực Năng lực là một vấn đề trừu tượng của tâm lý học, đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu khi giáo dục đang trong công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện. Vì thế mỗi một nhà nghiên cứu có một định nghĩa khác nhau về năng lực. Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá tri, cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí (John Erpenbeck, 1998).
Năng lực là sự kết hợp của tư duy, kĩ năng, thái độ có sẵn ở dạng tiềm năng có thể học hỏi được của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện thành công nhiệm vụ (DeSeCo, 2002). Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể (OECD, 2002). Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao (Theo Từ điển Tiếng Việt). Tóm lại chúng ta có thể hiểu bản chất của năng lực là khả năng tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ, kinh nghiệm và các thuộc tính tâm lí khác nhau như ý chí, niềm tin, đam mê, hứng thú,.
để thực hiện thành công một công việc, nhiệm vụ trong những tình huống, bối cảnh nhất định. Biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kĩ thuật trong tình huống có ý nghĩa chứ không phải tiếp thu lượng kiến thức một cách thụ động, rời rạc. Khái niệm năng lực giao tiếp toán học Giao tiếp có nhiều hình thức, theo nghĩa hiểu thông thường bao gồm nghe, nói, đọc, viết còn giao tiếp toán học là việc học sinh sử dụng các biểu diễn toán 9 học để trao đổi và chia sẻ các ý tưởng và kinh nghiệm với người khác. Như vậy để học sinh Tiểu học vận dụng được những năng lực giao tiếp toán học trong lớp học thì cần quan tâm rộng hơn về giao tiếp.
Theo quan điểm của Emori (2008), tác giả có đề cập đến những hoạt động tích hợp trong toán học, bao gồm: Giải quyết vấn đề, biểu diễn, lập luận và chứng minh. Mối tương qua giữa các yếu tố trên được tác giả thể hiện rất rõ qua mô hình giao tiếp toán học. Theo Brenner (1994), các khịa cạnh khác nhau của giao tiếp có là: - Giao tiếp về toán: đề cập đến quá trình HS suy nghĩa, giải quyết vấn đề và HS nêu được lí do tại sao lựa chọn phương án đó để giải quyết bài toán. - Giao tiếp trong toán: đề cập đến việc HS sử dụng linh hoạt, phù hợp, sáng tạo các kí hiệu, biểu diễn và ngôn ngữ toán học nhằm giải quyết hiệu quả các vấn đề toán học được đặt ra.
- Giao tiếp với toán: đề cập đến việc HS dựa vào cách hiểu cá nhân của bản thân trên cơ sở vận dụng vốn kiến thức toán đã có để trình bày ý tưởng giải quyết vấn đề. Theo nghiên cứu của Lim (2008), tác giả đề cập đến “Việc sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp trong lớp học tạo hiệu quả trong quá trình dạy và học môn Toán”. - Giá trị và mục đích của giao tiếp: gồm nội dung, mục đích. - Giao tiếp bằng ngôn ngữ nói: gồm các kỹ thuật hỏi – đáp, thảo luận, trình bày, nêu ý kiến, đánh giá, kể chuyện, phỏng vấn.
- Giao tiếp bằng văn bản: gồm các hoạt động ghi chép, làm bài tập, làm bài kiểm tra, lưu giữ vở viết, tranh ảnh có nội dung liên quan đến bài học. Như vậy, năng lực giao tiếp toán học là khả năng người học có thể hiểu được các vấn đề toán học thông qua hệ thống ngôn ngữ nói, viết, đồ họa; và vận dụng linh hoạt, hiệu quả ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ tự nhiên 10 để trình bày ý tưởng, trao đổi, tranh luận, giải thích các vấn đề của toán học một cách lô-gic, chính xác, thuyết phục. Một số vấn đề về năng lực giao tiếp toán học của học sinh lớp 1 1. Đặc điểm của năng lực giao tiếp toán học Trong các công trình nghiên cứu khoa học của mình, Hội Giáo viên toán của Mỹ (NCTM, 2007) đề cập đến các tiêu chuẩn về giao tiếp toán học, bao gồm: - Giao tiếp giúp trong việc phát triển tư duy toán - Thể hiện ngôn ngữ toán học một cách mạch lạc, rõ ràng với giáo viên, bạn bè và những người khác; - Phân tích, đánh giá ý kiến, quan điểm toán học của người khác; - Thể hiện chính xác những ý tưởng toán học thông qua các năng lực toán học.
Những đặc trưng của năng lực giao tiếp toán học được tác giả Niss Nogen mô tả trong báo cáo nghiên cứu của mình, bao gồm: - Hiểu, giải thích, trình bày được nội dung, văn bản toán học của người khác dưới dạng nói, viết hay trực quan; - Tự trình bày ý kiến, quan điểm của bản thân về một chủ đề toán học theo nhiều cách và mức độ khác nhau dưới dạng nói, viết, trực quan với mọi người. Các thành tố của năng lực GTTH cũng được nêu rõ trong Chương trình GDPT môn Toán năm 2018, bao gồm: - Nghe hiểu, đọc hiểu và ghi chép được các thông tin toán học cần thiết được trình bày dưới dạng văn bản toán học hay do người khác nói hoặc viết ra. - Trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung, ý tưởng, giải pháp toán học trong sự tương tác với người khác (với yêu cầu thích hợp về sự đầy đủ, chính xác). - Sử dụng được hiệu quả ngôn ngữ toán học (chữ số, chữ cái, kí hiệu, biểu đồ, đồ thị, các liên kết lô-gic,…) kết hợp với ngôn ngữ thông thường hoặc động 11 tác hình thể khi trình bày, giải thích và đánh giá các ý tưởng toán học trong sự tương tác (thảo luận, tranh luận) với người khác.
- Thể hiện được sự tự tin khi trình bày, diễn đạt, nêu câu hỏi, thảo luận, tranh luận các nội dung, ý tưởng liên quan đến toán học. Trong luận văn này, chúng tôi theo quan điểm của chương trình GDPT môn Toán ở Việt Nam năm 2018. Các hình thức giao tiếp toán học Việc phát triển khả năng về lập luận toán học của học sinh sẽ liên quan đến việc phát triển trí tuệ và cả năng lực giao tiếp của học sinh. Khả năng HS trình bày cách hiểu của bản thân về một nội dung toán học bằng nhiều cách khác nhau thể hiện sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo, biết kết nối các kiến thức toán học trong quá trình lĩnh hội tri thức.
Việc phát triển năng lực giao tiếp toán học cho HS dựa trên các hình thức: giao tiếp bằng lời, giao tiếp bằng cách lắng nghe, giao tiếp bằng cách đoc, giao tiếp bằng cách viết. Giao tiếp bằng cách nói: Học sinh được khuyến khích thảo luận, tranh luận, nêu ý kiến cá nhân để làm sáng tỏ một vấn đề trong toán học. Giao tiếp thông qua lắng nghe: Trong quá trình giao tiếp, HS biết lắng nghe ý kiến, ý tưởng của người khác về vấn đề lớp học đang quan tâm giải quyết. Học sinh quan sát các bạn trình bày, các em có cái nhìn bao quát, khách quan, toàn diện hơn về các khía cạnh khác nhau của một vấn đề.
Việc học tập môn Toán cũng tăng hiệu quả và tính ghi nhớ kiến thức cho các em được lâu hơn. Giao tiếp bằng cách đọc: Bằng cách đọc ngôn ngữ toán học, xác định nội dung trọng tâm của bài toán thông qua các từ khóa, liên kết các thông tin một cách lô-gic, HS hiểu vấn đề toán học một cách đầy đủ và sâu sắc hơn. Giao tiếp bằng cách viết: Học sinh viết ra những suy nghĩ của mình và các giải pháp hiện tại thông qua hệ thống các chữ viết, con số, kí hiệu, sơ đồ, 12 bảng biểu,. Các ý tưởng trong đầu từ trừu tượng sẽ được bộ lộ trực quan, rõ ràng, cụ thể hơn.
Từ đó, HS liên kết các vấn đề toán học dễ dàng hơn, tìm ra hướng giải quyết nhanh chóng, chính xác hơn. Biểu hiện năng lực giao tiếp toán học của học sinh tiểu học Theo Chương trình GDPT môn Toán năm 2018, năng lực giao tiếp toán học gồm những biểu hiện sau (xem bảng 1): Bảng 1. Những biểu hiện năng lực thành phần của năng lực GTTH của HSTH STT Năng lực thành phần Đặc điểm 1 Nghe hiểu, đọc và ghi chép (tóm Nghe hiểu, đọc và ghi chép được tắt) được các thông tin toán học các thông tin toán học cần thiết, trọng tâm trong nội dung văn bản được trình bày dưới dạng văn bản hay do người khác thông báo (ở toán học hay do người khác nói hoặc mức độ đơn giản), từ đó nhận biết viết ra được các vấn đề cần giải quyết. 2 Trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) Trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung, ý tưởng, giải được các nội dung, ý tưởng, giải pháp toán học trong sự tương tác pháp toán học trong sự tương tác với với người khác (chưa yêu cầu phải người khác (với yêu cầu thích hợp diễn đạt đầy đủ, chính xác).
Nêu và về sự đầy đủ, chính xác). trả lời được câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề 3 Sử dụng được hiệu quả ngôn ngữ Sử dụng được hiệu quả ngôn ngữ toán học (chữ số, chữ cái, kí hiệu, toán học kết hợp với ngôn ngữ biểu đồ, đồ thị, các liên kết thông thường, động tác hình thể để logic,…), kết hợp với ngôn ngữ biểu đạt các nội dung toán học ở thông thường hoặc động tác hình thể những tình huống đơn giản. khi trình bày, giải thích và đánh giá các ý tưởng toán học trong sự tương tác (thảo luận, tranh luận) với người khác. 4 Thể hiện được sự tự tin khi trình Thể hiện được sự tự tin khi trả lời bày, diễn đạt, nêu câu hỏi, thảo luận, câu hỏi, khi trình bày, thảo luận 13 tranh luận các nội dung, ý tưởng liên các nội dung toán học ở những tình quan đến toán học huống đơn giản.
Tiêu chí đánh giá năng lực giao tiếp toán học của học sinh lớp 1 Trong phần này, từ việc trình bày sáu mức độ thành thạo trong toán học, chúng tôi đề cập các tiêu chuẩn về giao tiếp toán học, đưa ra các mức độ thể hiện giao tiếp. Từ đó, chúng tôi xây dựng các mức độ đánh giá năng lực giao tiếp toán học của HS. Bảng mô tả tóm tắt sáu mức độ thành thạo trong toán học.