CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề chung về so sánh tu từ 1. Khái niệm so sánh tu từ Có nhiều tác giả đề cập đến SSTT. Khi bàn về khái niệm của SSTT, tác giả Đinh Trọng Lạc cho rằng: “So sánh tu từ là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, ở đó, hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn được mang ra đối chiếu nhưng giữa chúng chỉ có một nét giống nhau nào đó để tạo nên lối diễn tả mới mẻ, sinh động về đối tượng.154] Với một lối diễn đạt khác, tác giả Nguyễn Thái Hòa cho rằng: “So sánh là phương thức diễn đạt tu từ, trong đó, một sự vật này được mang đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc, người nghe.190] Cùng bàn về vấn đề này, tác giả Cù Đình Tú cũng cho rằng: “So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy nhằm biểu hiện một cách hình tượng phẩm chất bên trong của một đối tượng.
Trong cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt”, tác giả Lê A đã khẳng định “so sánh tu từ hay so sánh hình ảnh là một biện pháp tu từ trong đó các sự vật có nét tương đồng được mang ra đối chiếu để gợi ra hình ảnh cụ thể, cảm xúc thẩm mỹ trong tâm trí người đọc, người nghe.”[1] Điểm chung của các tác giả này là đều cho rằng SSTT là một BPTT trong đó hai sự vật khác loại được đưa ra đối chiếu với nhau dựa trên những nét tương đồng nào đó, đem đến một sự tri giác mới mẻ về đối tượng. Như vậy cơ chế để xác định so sánh tu từ là hai vế A (cái so sánh) và B 8 (cái đem ra làm chuẩn để so sánh) phải có nét tương đồng. Muốn hiểu được giá trị của so sánh phải dựa trên cơ sở liên tưởng tương đồng. Ví dụ: “Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là dao cau.
Miệng cười như thể hoa ngâu Cái khăn đội đầu như thể hoa sen. Ở đây rõ ràng “Cổ tay”, “ngà”, “con mắt”, “dao cau”, “miệng” và “hoa ngâu”, “cái khăn” và “hoa sen” là những cặp phạm trù hoàn toàn khác nhau nhưng giữa chúng lại có điểm chung: + “Cổ tay” và “ngà” có đặc điểm chung ở nét trắng. + “Miệng cười” và “hoa ngâu” có đặc điểm chung là đẹp, tươi. + “Mắt liếc” và “dao cau” có đặc điểm chung là sắc.
Qua cách so sánh của chàng trai ta thấy toát lên hình ảnh một cô thiếu nữ vừa xinh đẹp, sắc sảo lại vừa có duyên, đồng thời vừa thể hiện tình cảm quý mến của chàng trai dành cho cô gái. Các hình ảnh so sánh vừa gần gũi quen thuộc với người dân Việt Nam xưa, vừa là cách nói ý nhị, kín đáo nhằm bộc lộ tâm tư sâu kín của chàng trai dành cho cô gái vừa giúp người đọc hình dung ra được đây là cô gái đẹp, duyên dáng, đáng yêu. So sánh tu từ khác với so sánh logic ở tính hình tượng, tính biểu cảm và tính dị loại (không cùng loại) của sự vật. Chẳng hạn, so sánh logic: a = b vậy thì cũng có thể nói: b = a.
Nhưng so sánh trong ngôn ngữ: Nhà ấy con cũng giỏi như bố nhưng lại không thể nói: Nhà ấy bố cũng giỏi như con. Hoặc có thể nói: Thơ Xuân Quỳnh cũng hay như thơ Nguyễn Du nhưng lại không thể nói: Thơ Nguyễn Du cũng hay như thơ Xuân Quỳnh. Bởi vì trong ngôn ngữ, vế được so sánh có một tiền giả định làm chuẩn mực đã được khẳng định, không hoàn toàn đồng nhất với cái được so sánh. Vì vậy mọi so sánh (trong ngôn ngữ) đều khập khiễng.
Đó chính là hiện tượng khúc xạ của 9 ngôn ngữ. Trong những SSTT, hiện tượng khúc xạ còn tăng lên gấp nhiều lần vì còn mang sắc thái chủ quan của người so sánh. Khi ta nói “người đẹp như hoa” thì hoa là chuẩn của so sánh, đem người so với hoa đã là điểm khác thường nhưng Lí Bạch ca ngợi Dương Quý Phi đến mức: “Ở đây hoa cũng đẹp như người”. Hay Tố Hữu viết: Đêm qua trăng sáng Cổ Ngư Trăng in mặt ngọc trăng như mặt người” Thì chính là sự thăng hoa về cảm xúc đã nâng hình tượng vượt hẳn lên mức độ của sự so sánh thông thường.
Từ sự phân tích trên, theo chúng tôi có thể hiểu về so sánh tu từ như sau: So sánh tu từ là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mói mẻ về đối tượng. Cấu trúc so sánh tu từ So sánh bao giờ cũng gồm 2 vế: Vế A (vế so sánh, đối tượng so sánh) là cái chưa biết cần làm sáng tỏ. - Các đối tượng được so sánh với nhau là khác loại, khác phạm trù nhưng chúng đều có một nét chung nào đó giống nhau, là cơ sở cho sự so sánh. Ví dụ: “Cầu cong như chiếc lược ngà.” “Cầu” và “chiếc lược ngà” không cùng loại nhưng giống nhau ở độ cong, vẻ yêu kiều; hình dung cầu cũng đẹp, đáng yêu, đáng quý như chiếc lược ngà.
- Giữa A và B thường có từ so sánh. - Cấu trúc của SSTT dạng đầy đủ gồm 4 yếu tố: + Yếu tố 1: Yếu tố đưa ra so sánh. Tùy theo việc so sánh là tích cực hay tiêu cực mà yếu tố này còn được gọi là yếu tố được hoặc bị so sánh. + Yếu tố 2: Yếu tố phương diện so sánh.
+ Yếu tố 3: Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh. Yếu tố này thể hiện mức 10 độ so sánh ngang bằng nhau hoặc hơn kém nhau. + Yếu tố 4: Yếu tố dùng để so sánh. Đây là yếu tố được đưa ra làm chuẩn so sánh.
Ví dụ: Mặt tươi Như hoa 1 2 3 4 (Thành ngữ) 1. Phân loại so sánh tu từ Có thể phân loại so sánh tu từ dựa trên hai tiêu chí: dựa vào cấu trúc so sánh hoặc dựa vào ngữ nghĩa. Phân loại SSTT dựa vào cấu trúc so sánh - Dạng 1: SSTT đầy đủ 4 yếu tố Một hình ảnh so sánh đầy đủ thường bao gồm 4 yếu tố: cái được so sánh, phương diện so sánh, từ so sánh và chuẩn dùng để so sánh. Ví dụ : Tiếng suối trong Như tiếng hát xa 1 2 3 4 (Hồ Chí Minh) - Dạng 2: SSTT vắng yếu tố 1(yếu tố đưa ra so sánh): Đây là dạng so sánh không có cái so sánh.
Người đọc, người nghe dùng khả năng liên tưởng của mình để tìm ra cái so sánh là gì. Ví dụ: Đẹp như tiên. 2 3 4 Dạng so sánh này có rất nhiều trong thành ngữ so sánh: bạc như vôi, câm như hến, chạy như bay, cao như núi, cứng như đá, đỏ như son, chậm như rùa… - Dạng 3: SSTT vắng yếu tố 2 (yếu tố phương diện so sánh) Đây là dạng là so sánh không có cơ sở (hay còn được gọi là so sánh chìm). Khi gặp dạng so sánh này, người đọc, người nghe sẽ liên tưởng rộng hơn, trí tưởng tượng sẽ phong phú hơn.
Người đọc phải huy động trí tuệ để 11 xác định được nét giống nhau giữa 2 đối tượng ở 2 vế để rút ra đặc điểm của đối tượng được miêu tả. Ví dụ: Đây con sông như dòng sữa mẹ 1 3 4 (Hoài Vũ – Vàm cỏ đông ) Trong ví dụ trên, “con sông” được so sánh như “dòng sữa mẹ”. Thông qua sự so sánh ấy, tác giả Hoài Vũ đã làm toát lên được vẻ đẹp đáng quý của con sông quê hương. Với sự so sánh thiếu yếu tố 3 này dễ gợi cho người đọc những suy nghĩ và sự liên tưởng khác nhau như: Con sông “đầy ăm ắp” như dòng sữa mẹ.
Con sông “ngọt ngào” như dòng sữa mẹ. Con sông “tốt lành” như dòng sữa mẹ. - Dạng 4: SSTT vắng yếu tố 2 và yếu tố 3 (yếu tố phương diện so sánh và yếu tố thể hiện quan hệ so sánh). Ở dạng này, cấu trúc SSTT chỉ bao gồm cái được so sánh và cái dùng để so sánh.
Yếu tố 2 và yếu tố 3 vắng mặt và được thay thế bằng dấu gạch ngang, chỗ ngắt giọng hoặc có hình thức đối chọi. Ví dụ: Thân dừa bạc phếch tháng năm Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao Đêm hè hoa nở cùng sao Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh (Cây dừa – Trần Đăng Khoa) Trong ví dụ trên, nhà thơ đã thay thế yếu tố 2 và yếu tố 3 bằng dấu gạch ngang, giúp người đọc cảm nhận được âm điệu nhịp nhàng của hình ảnh so sánh. Ở hình ảnh so sánh thứ nhất: những quả dừa nằm san sát nhau trên cao chẳng khác gì những chú lợn con nằm chen chúc nhau quanh mẹ. Đây là một cách so sánh đúng mà rất thú vị.
Cách so sánh “Tàu dừa – chiếc lược chải 12 vào mây xanh” là cách so sánh hay và lạ. Tàu dừa thành chiếc lược, mây xanh thành suối tóc. Một hình ảnh so sánh kì diệu và thơ mộng biết bao! Những cách so sánh này đã giúp cho cảnh vật trong bài thơ trở nên sống động, có sức gợi tả, gợi cảm cao, tạo nên sự bất ngờ và thú vị cho người đọc và người nghe. Ngoài những cấu trúc trên, SSTT cũng có những biến thể sau: + So sánh đổi chỗ: yếu tố 1 và yếu tố 4 đổi chỗ cho nhau.
Ví dụ: Trên trời mây trắng như bông Ở giữ cánh đồng bông trắng như mây (Ca dao) + Một đối tượng có thể đem so sánh với nhiều đối tượng khác nhau. Ví dụ: “Bỗng gặp một mùi hương Như lời yêu thầm gọi Như ánh đèn chờ đợi Như ánh mắt bao dung”. Phân loại so sánh tu từ dựa vào ngữ nghĩa * Phân loại so sánh dựa vào ngữ nghĩa của từ chỉ quan hệ so sánh - Dạng 1: So sánh ngang bằng Đây là dạng so sánh thường dùng từ “như”, từ “là”, từ “tựa”. để làm từ so sánh.
Ví dụ: Hai bàn tay em Như hoa đầu cành (Huy Cận – Hai bàn tay em) Qua hình ảnh so sánh trên, người đọc hình dung ra được đôi bàn tay của em bé thật xinh xắn và đáng yêu như bông hoa đầu cành. Đây chính là một sự so sánh ngang bằng. Ngoài ra có thể dùng cặp từ “bao nhiêu”, “bấy nhiêu” để so sánh.