Mở Đầu. • Chương II : Tổng Quan. • Chương III : Cơ Sở Lý Thuyết. • Chương IV : Phương Pháp Tiến Độ Cho Dự Án Xây Dựng Với Công Tác Lặp Lại Không Thuẩn Nhất Có Thứ Tự Lặp Thay Đổi.
• Chương V : Giới Thiệu Về Phần Mềm Tính Toán Và Ứng Dụng. • Chương VI : Ứng Dụng Vào Công Trình Thực Tế Ở Việt Nam HVTH: Nguyễn Thành Trung Trang 8 Luận văn cao học GVHD: TS. Lương Đức Long CHƯƠNG II TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Giới thiệu: Trong lĩnh vực xây dựng, những dự án được chia ra thành những đơn vị tuần tự liên quan đến những công tác lặp lại như nhau thường yêu cầu một nguồn lực lớn được sử dụng theo cách thức tuần tự và do đó việc quản lý nguồn lực hiệu quả rất quan trọng trong việc cực tiểu hóa tổng chi phí thực hiện dự án và về sau nó ảnh hưởng trực tiếp chi phí dự án và cũng như gián tiếp bởi việc đáp ứng chi phí tài chính yêu cầu và những ngày đáp ứng trung gian.
Những dự án loại này thường được xem xét rủi ro cao, bởi vì những nguyên do thuộc về bản chất tự nhiên không nhận biết trước được, sự dính líu tiềm tàng liên quan đến những tranh cãi về luật, điều kiện thời tiết không dự báo được. Những nhân tố này có thể gây ra trì hoãn tổng thể thời gian hoàn thành dự án và vượt chi phí, do đó quản lý nguồn lực và các mốc thời gian đáp ứng từng phần trở thành vấn đề thật sự quan trọng. Đã từ lâu CPM được sử dụng phổ biến nhất cho việc lên kế hoạch hoạch định và kiểm tra những dự án như vậy. Từ khi được phát triển bởi Dupont, Inc., trong những năm 50 của thế kỷ 20, CPM là công cụ quản lý hoạch định tiêu chuẩn và phổ biến trong những dự án xây dựng.
Những giới thiệu rõ ràng và đầy đủ về CPM có thể được tìm thấy trong nhiều nguồn khác nhau Trong một CPM điển hình, tổng thời gian của một dự án đang tiếp diễn được xác định dựa vào giả thuyết những công tác tương lai sẽ tiến triển như hoạch định bất kể kết quả hoàn thành trong quá khứ. Ví dụ tại thời điểm dự đoán, ngày hoàn thành thật sự của công tác đã kết thúc và phần trăm hoàn thành của công tác đang tiếp diễn được cập nhật vào trong sơ đồ mạng cập nhật. Sau đó, ngày bắt đầu và kết thúc của những công tác còn lại được tính toán một cách xác định tương ứng với mối quan hệ phụ thuộc và thời gian ước đoán nguyên gốc của từng công tác. Những thiếu sót này đã được phê phán từ những năm 60.
HVTH: Nguyễn Thành Trung Trang 9 Luận văn cao học GVHD: TS. Lương Đức Long Những dự án nhiều đơn vị có thể được hoạch định sử dụng kỹ thuật CPM đã được chấp thuận phổ biến nhưng việc sử dụng liên tục nguồn lực xuyên qua những đơn vị (units) lặp lại không thể được đảm bảo khi sơ đồ mạng CPM này được sử dụng. 8 9 B3 UNIT 3 1 TF=6 5 8 15 17 17 18 A3 D3 0 E3 3 2 1 TF=3 TF=0 TF=0 10 14 C3 4 TF=1 UNIT 2 3 5 10 15 15 16 A2 D2 0 E2 2 5 1 TF=2 TF=0 TF=1 7 10 C2 3 TF=0 3 4 B1 1 1 TF=4 0 3 7 9 9 10 A1 D1 E1 3 2 1 TF=0 TF=1 TF=6 3 7 C1 4 TF=0 Hình 2.1 Sơ đồ mạng CPM có 3 công tác lặp lại Hình 2.1 là một sơ đồ mạng CPM được chuẩn bị cho một dự án bao gồm 3 đơn vị lặp lại. Đường liền nét liên kết những công tác trong mỗi đơn vị và liên kết HVTH: Nguyễn Thành Trung Trang 10 Luận văn cao học GVHD: TS.
Lương Đức Long những công tác tương tự nhau từ đơn vị này đến đơn vị kia thể hiện ràng buộc mối quan hệ kỹ thuật trong sơ đồ mạng. Ví dụ, công tác B1, C1 và A2 không thể bắt đầu cho đến khi công tác A1 kết thúc. Đường đứt nét liên kết công tác tương tự nhau từ đơn vị này đến đơn vị kia thể hiện ràng buộc tính có sẵn của nguồn lực. Ví dụ, công tác A2 không thế bắt đầu cho đến khi tổ đội từ công tác A1 đã sẵn sàng.
Chú ý rằng đơn vị 1 và 3 có 5 công tác (A, B, C, D và E) nhưng đơn vị 2 không có công tác B. Đơn vị 2 cũng khác biệt đó là thời gian của từng công tác riêng biệt không giống như trong đơn vị 1 và 3. Những khác biệt này phản ánh những khối lượng công việc khác nhau cần thiết để hoàn thành những công tác này trong các đơn vị. Những khối lượng khác biệt này có thể do tính chủ quan người quản lý dự án chia ra các đơn vị hay do đặc thù của tính kỹ thuật (Ví dụ: các đơn vị của các nhà cao tầng thường được chia mỗi đơn vị là một tầng nhà).
Giải pháp trong hình 2.1 dẫn đến kết quả thời gian dự án là 18 ngày và đường găng bao gồm công tác A1, C1, C2, D3 và E3. Một cách điển hình, mỗi đơn vị trong một sơ đồ mạng lặp lại chứa những công tác có thời gian như nhau và đường găng trải qua suốt sơ đồ mạng công tác trong đơn vị đầu tiên cho đến khi một công tác với thời gian dài nhất được tìm thấy. Kế đến, đường này trải qua những công tác tương tự nhau trong đơn vị kế tiếp cho đến khi đơn vị sau cùng trong trình tự được đến và tiếp tục xuyên qua sơ đồ mạng đơn vị sau cùng cho đến khi công tác sau cùng kết thúc. Nếu ba đơn vị trong hình 2.1 giống nhau, đường công tác bao gồm công tác A1, C1, C2, C3, D3 và E3.
Sự thay đổi trong đường này bao gồm công tác D2 và không có C3 như mong muốn bị gây ra bởi vì sự khác biệt những công tác trong đơn vị 2. Những mối liên kết trong sơ đồ mạng CPM đảm bảo cả hai ràng buộc mối quan hệ phụ thuộc kỹ thuật và yêu cầu có sẵn của nguồn lực được đáp ứng. Tuy nhiên, ràng buộc liên tục của nguồn lực không thể tượng trưng trực tiếp trong sơ đồ mạng CPM vì thế việc sử dụng không bị gián đoạn của nguồn lực từ đơn vị này đến đơn vị kia không thể được đảm bảo. Điều này cũng dễ hiểu bởi vì bản HVTH: Nguyễn Thành Trung Trang 11 Luận văn cao học GVHD: TS.
Lương Đức Long thân phương pháp CPM hoạch định được dẫn hướng bởi thời gian và ít hoặc không quan tâm đến nguồn lực. Hoạch định thể hiện trong hình 2.1 cung cấp việc sử dụng liên tục của nguồn lực cho công tác C. Công tác C1 bắt đầu vào ngày thứ 3 và kết thúc vào ngày thứ 7, công tác C2 bắt đầu vào ngày thứ 7 và kết thúc vào ngày thứ 10, công tác C3 bắt đầu ngày 10 và kết thúc vào ngày 14 vì vậy việc sử dụng nguồn lực không bị gián đoạn từ ngày 3 đến ngày 14. Đối với công tác D, thời gian hoạch định không cung cấp việc sử dụng nguồn lực liên tục.
Công tác D1 được hoạch định kết thúc vào ngày thứ 9 nhưng bắt đầu công tác D2 không được hoạch định để bắt đầu cho đến khi một ngày trễ hơn (vào ngày 10). Do đó, có khoảng trống 1 ngày trong việc sử dụng nguồn lực cần thiết cho công tác D. Tương tự, tính liên tục của nguồn lực được cung cấp bởi hoạch định của công tác A, nhưng không đạt được cho công tác B và E. Khi việc sử dụng không liên tục của nguồn lực cần thiết, những công tác có gián đoạn trong tính liên tục của nguồn lực có thể được hoạch định lại bằng cách sử dụng thời gian dự trữ của chúng.
Ví dụ, thời gian dự trữ tổng cộng một ngày của công tác D1 được sử dụng và D1 có thể hoạch định lại để bắt đầu vào ngày thứ 8 và kết thúc vào ngày thứ 10. Trong những dự án lớn với những công tác lặp lại, việc phân tích từng công tác đã hoàn thành và sửa chữa hay hiệu chỉnh sơ đồ mạng CPM được yêu cầu để đảm bảo tính liên tục của nguồn lực, một quá trình như thế là cồng kềnh và đầy khả năng lỗi có thể xảy ra. Có thể kết luận từ hình 2.1 rằng sơ đồ mạng CPM cho những dự án với những đơn vị lặp lại có dáng vẻ bậc thang với mỗi bậc là một sơ đồ mạng phụ bao gồm những công tác và mối quan hệ phụ thuộc cho một đơn vị. Bởi vì đồ thị CPM thể hiện tất cả những mối liên kết giữa những công tác tương tự nhau trong những đơn vị liên tiếp và số lượng của liên kết, như thế số nút sẽ lớn và sơ đồ mạng sẽ xuất hiện nhiều phức tạp không cần thiết.
Như đã nói ở trên, kỹ thuật phân tích sơ đồ mạng (CPM, PERT) định hướng thời gian không đủ khả năng chú tâm vào những vấn đề quản lý nguồn lực. HVTH: Nguyễn Thành Trung Trang 12 Luận văn cao học GVHD: TS. Lương Đức Long Những kỹ thuật khác tập trung vào việc sử dụng nguồn lực như RSM đã được đề nghị như là một phương pháp thích hợp hơn cho việc hoạch định và kiểm soát những dự án lặp lại. Tuy nhiên, quyết định hoạch định cho những dự án lặp lại là phức tạp hơn vì một vài yếu tố chi phí liên quan đến những khía cạnh khác nhau của dự án (nghĩa là tổng thời gian dự án, sự lãng phí nguồn lực, phân phối mang tính thời gian của những đơn vị dự án, chi phí tài chính) phải được xem xét và cân bằng bởi nhà quản lý dự án để đạt được hoạch định hiệu quả chi phí.
Bản chất phức tạp của những dự án lặp lại tuyến tính: Trong nhiều ví dụ, những dự án xây dựng bao gồm một bộ những công trình mà được lặp lại tuần tự tại nhiều vị trí khác nhau hoặc những đơn vị (công trường xây dựng). Sau khi một công tác hoàn tất tại một vị trí, nó được lặp lại trong khu vực tiếp theo. Những công tác này theo một trình tự logic và kỹ thuật được dẫn hướng trình tự và chịu một vài ràng buộc thời gian và khoảng cách ấn định bởi những lý do bên trong (như kỹ thuật và quản lý) hoặc bên ngoài mà vẫn duy trì trong suốt toàn bộ đời sống dự án. Trong suốt những thập niên vừa qua nhiều thuật ngữ khác nhau đã được sử dụng để miêu tả những dự án như thế.