Chương 1 TONG QUAN VE CONG NGHE COC KHOAN NHOI DUONG KINH NHO & THI CONG HO DAO SAU 1. Tổng quan về thi công các hồ đào sâu: Khi thi công tầng ham cho các công trình, việc chống giữ, gia cố thành hố dao là một vấn dé hết sức quan trong va phức tạp. Do đó, việc lựa chọn phương án gia có thành hồ dao cần đáp ứng một số nguyên tắc sau: + An toàn và tin cậy: Đáp ứng yêu cầu độ ồn định và sự biến dạng của kết cau chăn giữ, đảm bảo an toàn cho công trình xung quanh. + Tính hợp lý về kinh tế: Dưới tiền dé là đảm bảo an toàn, tin cậy cho kết cau chan giữ, phải xác định phương án có hiệu quả kinh tế kỹ thuật rõ ràng trên cơ sở tong hop các mặt thời gian, vat liệu, thiết bị, nhân công và bảo vệ mồi trường xung quanh.
+ Thuận lợi và bảo đảm thời gian cho thi công: Trên nguyên tac an toan tin cậy và hợp lý về kinh tế, đáp ứng tối đa những điều thuận lợi cho thi công (bao gồm bồ trí chắn giữ hợp lý, thuận tiện cho việc dao đất), rút ngăn thời gian thi cong. Kết cau chan giữ thường chi có tinh tam thời, khi tang hầm thi công xong là hết tác dụng. Một số vật liệu làm kết câu chan gitt có thể được sử dụng lại như cọc bản thép và những phương tiện chắn giữ theo kiểu công cụ. Nhưng cũng có một số kết cầu chắn giữ được chôn lâu dài trong đất như coc tam bê tông cốt thép, cọc nhdi, cọc trộn xi măng đất và tường liên tục trong đất.
Cũng có cả loại trong khi thi công móng thì làm kết cau chan giữ hỗ mong, thi công xong sẽ trở thành một bộ phận của kết cau vĩnh cửu, làm thành tường ngoài cho tác tầng ngầm của công trình.Một số phương pháp gia có thành hồ đào pho biến hiện nay| I]: a. Sử dụng tường cọc ván thép hình hoặc ống thép (sheet pile wall): Nội dung của phương pháp: Sử dụng thép máng, thép sap ngửa móc vào nhau hoặc cọc bản thép khóa miệng bang các thép hình với mặt cắt chữ U -16- hoặc Z. Dùng phương pháp đóng hoặc rung dé ha chúng vào trong dat. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chăn gitr có thể thu hồi sử dụng lại; Lịch sử ứng dụng công nghệ: Cọc ván thép được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1908 tại Mỹ trong dự án Black Rock Harbour, tuy nhiên trước đó người ý đã sử dụng tường cọc bản băng gỗ để làm tường vây khi thi công móng mồ trụ câu trong nước.
Bên cạnh gỗ và thép, cọc bản cũng có thể được chế tạo từ nhôm, từ bê tông ứng lực trước. Tuy nhiên với những ưu điểm vượt trội, cọc ván thép vẫn chiếm tỉ lệ cao trong nhu cầu sử dụng. Cho đến nay cọc ván thép được sản xuất với nhiều hình dạng, kích thước khác nhau và được ứng dụng trên toàn thế giới với các đặc tính về khả năng chịu lực ngày càng được cải thiện. Ngoài cọc ván thép có mặt cắt ngang dạng chữ U, Z thông thường còn có loại mặt cắt ngang Omega (W), dạng tam phang (straight web) cho các kết câu tường chan tròn khép kin, dạng hộp (box pile) được cấu thành bởi 2 cọc U hoặc 4 cọc Z hàn với nhau.
Tuy theo mức độ tải trọng tác dụng mà tường chắn có thể chỉ dùng cọc ván thép hoặc kết hợp sử dụng cọc ván thép với cọc ống thép (steel pipe pile) hoặc cọc thép hình H (King pile) nhằm tăng khả năng chịu mômen uốn. Phạm vi áp dụng: Phương pháp được sử dụng rộng rãi hiện nay cho nhiều loại công trình khác nhau từ các công trình thủy công như cảng bờ kè, cầu tàu, đê chắn, công trình cải tạo dòng chảy đến các công trình giao thông như các công trình câu, hầm, bãi đậu xe ngầm. Trong xây dựng công trình dân dụng nó được sử dụng pho biến trong việc gia cố thành các hỗ đào có độ sâu từ 3-6m.1: Mot số loại cir được sử dụng pho biến ở Việt Nam hiện nay TT Qui cách Trọng lượng Vật liệu Ứng dụng (kg/m) Công trình 400mmx1I00mmx JIS A5528 dân đ Ộ ân dụng và LÌ 105mm x 12m; 483KG/M SY 295; SY295 công nghiệp Công trình 400mmx125mmx JIS A5528 2 dân dụng và 13mm x 12m; 60KG/M SY295; SY295 công nghiệp Công trình 3 400mmx170mmx 60KG/M JIS A5528 dan dung va 15,5mm x 12m; SY 295; SY295 | công nghiệp Cong trinh 500mmx 200mmx JIS A5528 4 105KG/M giao thong, bo 24,.3mmx12m; SY 295; SY390 ' đê, cảng biên Công trình 500mmx 225mmx JIS A5528 5 120KG/M giao thông, bờ 27,6mmx12m; SY 295; SY390 „ đê, cảng biên | 7 = Ñ Ẩ\ a \b | ! _f : \ - 8 whe 8 « cả : [ lá4 | | /í Z \ Hinh 1.1: Coc ctr Larssen Hình 1.2: Coc cu dạng thép hình I _18- Ưu điểm: - Khả năng chịu ứng suất động khá cao (cả trong quá trình thi công lẫn trong quá trình sử dụng); - Khả năng chịu lực lớn trong khi trọng lượng khá bé; - Thiết kế đơn giản, có tính định hình cao; - Coc ván thép có thé nối dé dàng bằng mối nối hàn hoặc bulông nhằm gia tăng chiều dài; - Cọc ván thép có thể sử dụng nhiều lần, do đó có hiệu quả kinh tẾ cao; - Chất lượng của vật liệu làm cọc bản tin cậy do được chế tạo trong nhà máy; - Thi công nhanh, thuận tiện và tương đối đơn giản trong tầng đất yếu; - Khả năng ngăn nước tương đối tốt; Nhược điểm: - Khi thi công ép, đóng vào trong đất dễ gây ảnh hưởng đến công trình bên cạnh; - BỊ ăn mòn trong quá trình sử dụng; - Chiều sâu hỗ đào không lớn; _19- - Công tác thu hồi lại các ván thép đã sử dung khá khó khăn và tốn kém, trong nhiều trường hợp gây ảnh hưởng đến các công trình lân cận. Chắn giữ băng cọc trộn dưới sâu: Nội dung của phương pháp: Trộn cưỡng chế đất với xi măng, vôi lợi dụng một loạt các phản ứng hóa học vật lý làm cho đất mềm đóng răn lại thành một thé cọc có tính chỉnh thé, tính ôn định và có cường độ nhất định; Khái quát về ứng dụng công nghệ: - Sau đại chiến thế giới lần thứ II, Mỹ là nước dau tiên nghiên cứu vé cọc xi măng trộn tai chỗ (MIP), đường kính cọc 0,3-0,4m dài 10-12m; - Năm 1950 bắt đầu được nghiên cứu ứng dụng ở Nhật Bản, 1974 Trạm nghiên cứu kỹ thuật bến cảng của Nhật hợp tác nghiên cứu thành công phương pháp trộn xi măng dé gia cô (CMC); - Năm 1977 Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu trong phòng và nghiên cứu chế tạo máy 2 trục đầu tiên dé trộn dưới sâu: - Nam 1990 Nhật Ban đưa ra công nghệ thi công trộn sâu mới gọi là phương pháp RR; - Đầu những năm 1980 ở Việt Nam đã sử dụng công nghệ của hãng Linden-Alimak; - Hiện nay cọc xi măng đất được sử dung kha pho biến ở Việt Nam.
Phạm vi áp dụng: Cọc xi măng đất là một trong những giải pháp xử lý nền đất yếu khá hiệu quả. Coc xi măng đất được áp dụng rộng rãi trong việc xử lý móng và nền dat yếu cho các công trình xây dựng giao thông, thuý lợi, sân bay, bến cảng như: làm tường hào chống thâm cho dé đập, sửa chữa thắm máng cống và đáy công, ồn định tường chắn, chống trượt đất cho mái dốc, gia cỗ nền đường, mồ cầu dẫn, gia có đất xung quanh các hồ dao có độ sâu 3-óm; Ưu điểm: - Tăng khả năng chống trượt của mái dốc; - Tăng cường độ chịu tải cua nên đất; - Giảm ảnh hưởng chan động đền công trình lần cận; _ 20 - - Tránh hiện tượng biến loãng (hóa lỏng) của đất rời; - Cô lập phần đất bị ô nhiễm; - On định thành hồ dao; - Ngăn được nước thấm vào hồ dao: - Khi dùng phương án tường chắn bằng cọc trộn dưới sâu thường không sử dụng hệ thanh chồng, tạo điều kiện thi công hồ móng rất thông thoáng: - Qui trình thi công đơn giản, nhanh chóng; - Giá thành rẻ hơn so với các phương án gia cô khác; - Tính tự động hóa trong thi công cao; - Khi thi công không ảnh hưởng đến các công trình bên cạnh. Nhược điểm: - Phương pháp chưa thực sự phố biến trong xử lý hỗ đào cho các công trình dân dụng: - Khả năng chịu tải của cọc thấp nên chiều sâu hỗ đào không cao; - Cọc sau khi sử dụng làm cọc biện pháp không tận dụng được làm cọc chịu tải cho công trình hay có thể thu hồi sử dụng lại; - Do máy thi công hiện có trên thị trường có kích thước lớn nên cọc - 21- không phù hợp khi áp dụng cho các công trình xây chen có qui mô nhỏ. Sử dụng coc bản bê tông cốt thép, bê tông cốt thép ứng lực trước: Nội dung của phương pháp: Đây là phương pháp gia cường hố đào sử dụng coc bản bê tông cốt thép dài 6-12m được đóng hoặc ép xuống đất tao thành hệ tường chắn giữ cho hỗ dao.
Tùy thuộc vào tiết diện của coc sau khi ép có thé phải xử lý loại bỏ phan đất tại vị trí tiếp giáp giữa hai cọc rồi đồ bê tông bu. Khái quát về tình hình ứng dụng công nghệ: - Cách đây hơn 50 năm, Tập đoàn PS MITSUBISHI (Nhật Ban) đã phát minh ra loại “cọc ván bê tông cốt thép dự ứng lực” với kiểu dáng hình học dạng sóng của mặt cắt tiết diện và đã được xây dựng thử nghiệm rất có hiệu quả ở Nhật. - Cọc ván bê tông cốt thép dự ứng lực được ứng dụng lần đầu tiên tại Việt Nam khoảng năm 1999-2001 tại cụm công trình nhiệt điện Phú Mỹ- tỉnh Ba Ria Vũng Tàu, làm kênh dẫn nước giải nhiệt cho nhà máy tuốc bin khí với chiều dài trên 1000m, chiều rộng 45m, chiều sâu 8,7m- với sự giúp đỡ của các nhà tư van Nhật Ban và đặc biệt sự. Hướng dẫn trực tiếp công nghệ thi công lắp đặt của Nhà sáng chế ra cọc ván bê tông cốt thép dự ứng lực - Tiến sĩ ITOSHIMA.
Hiện nay kênh này vẫn bền vững và Nhật đã chuyển giao công nghệ này cho Việt Nam. _22- Phạm vi áp dụng: Công nghệ được ứng dụng rộng rãi trong các thi công các hỗ đào có độ sâu 3-10m của các công trình như bờ kè trục giao thông, công mương, đê đập, tầng hầm công trình hay công trình ngầm thi công băng phương pháp đào hở.