Tổng quan nghiên cứu

Năng suất lao động trên công trường xây dựng đóng vai trò quyết định đến hiệu quả kinh tế, tiến độ thi công và năng lực cạnh tranh của toàn ngành xây dựng. Trong bối cảnh kinh tế phục hồi sau đại dịch, tỉnh Bến Tre bước vào giai đoạn năm 2024 với hàng loạt dự án giao thông và hạ tầng trọng điểm như cầu Ba Lai, tuyến đường bộ ven biển và dự án nhà máy Hydro xanh. Tuy nhiên, sự đứt gãy chuỗi cung ứng nguyên vật liệu cùng tình trạng thiếu hụt cục bộ nguồn cát đắp với trữ lượng cấp phép hạn chế ở mức 510.000 m3 và công suất 180.000 m3/năm đã đặt ra bài toán cấp bách về quản trị nguồn lực. Kết quả khảo sát toàn diện cho thấy mức điểm đánh giá quản lý năng suất lao động trung bình trên địa bàn tỉnh đạt 3.84 trên thang điểm 5.00, phản ánh hệ thống quản lý đang ở mức cơ bản bước vào giai đoạn phát triển.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm tập trung vào việc nhận diện, lượng hóa các rào cản và đánh giá thực trạng quản lý năng suất tại các công trình xây dựng thực tế. Mục tiêu cụ thể của công trình là đo lường mức độ tác động của 49 yếu tố quản lý, xác định các điểm nghẽn chính trong chuỗi thi công, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khắc phục thực tiễn và bổ sung các nhân tố mới nhằm hoàn thiện bộ công cụ đánh giá. Phạm vi nghiên cứu được triển khai trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong khung thời gian từ tháng 01/2024 đến tháng 05/2024, thu thập dữ liệu chuyên sâu từ tháng 01 đến tháng 04/2024. Đề tài mang ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ nhà thầu giảm thiểu tối đa thời gian lãng phí, kiểm soát chi phí thi công và nâng cao hiệu quả giải ngân vốn đầu tư công tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết năng suất tổng quát của Ramsay (1973), xác định năng suất là mối tương quan tối ưu hóa giữa đầu ra hoàn thiện và nguồn lực đầu vào. Trong lĩnh vực kỹ thuật công trường, nghiên cứu vận dụng công thức nghịch đảo chuẩn hóa: Năng suất bằng Tổng số giờ lao động thực tế chia cho Tổng sản lượng hoàn thành.

Khung đánh giá cốt lõi kế thừa và phát triển từ Bộ công cụ đánh giá quản lý năng suất lao động công trường của Đỗ Chí Diễn và Lê Hoài Long (2022), bao gồm 49 yếu tố cấu thành phân bổ trong 8 nhóm chỉ tiêu đại diện: Vật liệu và thiết bị, Nguồn lực lao động, Thi công và quản lý, Trình độ năng lực, Đặc điểm dự án, Điều kiện làm việc, An toàn - môi trường và Kinh tế - xã hội. Nghiên cứu cũng tích hợp các mô hình phân tích thứ bậc AHP của Nguyễn Văn Phát (2017), nguyên lý tự thẩm định đa tiêu chí của Andrade (1997) và chuẩn đo lường của Sadler (2009) để thiết lập thang đo Likert 5 cấp độ khoa học.

Phương pháp nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu được chuẩn hóa qua 6 giai đoạn logic: rà soát tài liệu học thuật, thiết kế bảng câu hỏi bán cấu trúc, khảo sát diện rộng, tổng hợp dữ liệu, tham vấn chuyên gia và hoàn thiện bộ công cụ. Cỡ mẫu thu thập đạt 444 phản hồi hợp lệ đối với 49 biến quan sát, đạt chỉ số tin cậy trung bình 3.77 điểm.

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện phi xác suất kết hợp phân tầng chuyên môn được áp dụng để tiếp cận đúng nhóm đối tượng am hiểu sâu sắc thực tế công trường, bao gồm Chủ đầu tư, Tư vấn giám sát, Tư vấn thiết kế, Nhà thầu chính và Thầu phụ. Kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc trực tiếp được thực hiện với 6 nhóm chuyên gia có trên 10 năm kinh nghiệm công tác tại Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Xây dựng, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giao thông Vận tải và Ban Quản lý Dự án Tỉnh Bến Tre. Toàn bộ dữ liệu định lượng được xử lý và phân tích thống kê mô tả thông qua bảng tính tổng hợp, tính toán điểm trung bình có trọng số từ ngày 01/04/2024 đến ngày 15/04/2024.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích thống kê cho thấy bức tranh đa chiều về năng lực quản trị công trường tại Bến Tre với điểm trung bình tổng thể đạt 3.84 điểm. Nhóm yếu tố "Thi công và Quản lý" được ghi nhận mức điểm cao nhất là 4.04/5.00, chứng minh năng lực điều hành dự án, sự phối hợp giữa các bên và công tác bố trí nhân sự giám sát đã được các đơn vị quan tâm sâu sát. Nhóm "Kinh tế và xã hội" xếp tiếp theo với mức 3.97 điểm, phản ánh sự can thiệp tích cực từ cơ quan quản lý nhà nước trong giải ngân vốn và tháo gỡ vướng mắc giải phóng mặt bằng.

Trái lại, nhóm "Vật liệu và thiết bị" ghi nhận mức đánh giá thấp nhất trong toàn bộ hệ thống với điểm bình quân 3.67/5.00. Trong đó, tiêu chí sử dụng vật liệu mới đạt điểm số thấp nhất là 3.44 điểm (tổng điểm tích lũy 1528), chất lượng máy móc thiết bị thi công đạt 3.78 điểm (1697 điểm), sự sẵn có của vật liệu đạt 3.86 điểm (1712 điểm) và sự sẵn có máy móc đạt 3.91 điểm (1736 điểm). Nhóm "Nguồn lực lao động" cũng dừng lại ở mức khiêm tốn 3.28 điểm, chỉ ra thực trạng thiếu hụt trầm trọng đội ngũ thợ có tay nghề và ý thức kỷ luật lao động chưa cao. Các nhóm còn lại duy trì mức độ phát triển ổn định: Trình độ năng lực đạt 3.94 điểm, Đặc điểm dự án đạt 3.93 điểm, An toàn và môi trường đạt 3.82 điểm và Điều kiện làm việc đạt 3.80 điểm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến nhóm vật tư thiết bị nhận điểm thấp xuất phát từ thực trạng khan hiếm nguồn vật liệu đắp nền tại địa phương. Toàn tỉnh chỉ có 1 mỏ cát được cấp phép khai thác thương mại, trong khi 3 trên 5 doanh nghiệp trúng đấu giá đã bị hủy kết quả do không hoàn thiện nghĩa vụ tài chính theo quy định. Thêm vào đó, phần lớn các nhà thầu quy mô vừa và nhỏ tại địa phương có xu hướng sử dụng máy móc cũ đã qua sử dụng nhằm tiết kiệm chi phí đầu tư ban đầu, dẫn đến tỷ lệ hư hỏng máy móc cao và gián đoạn dây chuyền thi công.

Dữ liệu nghiên cứu khi biểu diễn qua biểu đồ mạng nhện thể hiện rõ sự mất cân đối giữa năng lực hoạch định quản lý và nguồn lực công nghệ - vật chất. Phát hiện này hoàn toàn tương đồng với các công bố quốc tế của Robles và cộng sự (2014) tại Tây Ban Nha và Ibrahim Mahamid (2013) tại Bờ Tây, khi chuỗi cung ứng vật liệu và kỹ năng lao động luôn là 2 biến số gây sụt giảm năng suất nghiêm trọng nhất. Ý kiến chuyên gia cũng khẳng định cần bổ sung ngay các yếu tố mới vào bộ công cụ đánh giá, bao gồm: cải thiện môi trường làm việc tâm lý, xây dựng kênh giao tiếp liên phòng ban minh bạch và thiết lập văn hóa tôn trọng đa dạng tại công trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát định lượng và ý kiến tham vấn chuyên gia đầu ngành, hệ thống giải pháp toàn diện được đề xuất thực thi theo các trục mục tiêu cụ thể:

  • Tái cấu trúc chuỗi cung ứng vật tư và cơ giới hóa thiết bị: Các nhà thầu xây dựng cần chủ động lập kế hoạch cung ứng vật tư trước tối thiểu 30 ngày so với tiến độ thi công thực tế; thay thế dần các trang thiết bị cũ kỹ bằng máy móc hiện đại và thực hiện bảo dưỡng định kỳ 100% thiết bị cơ giới nhằm giảm tỷ lệ ngừng máy đột xuất xuống dưới 5% trong giai đoạn quý 3 năm 2024 đến hết năm 2025.
  • Chuẩn hóa công tác đào tạo và nâng cao tay nghề nhân lực: Nhà thầu phối hợp cùng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp địa phương tổ chức đào tạo ngắn hạn và huấn luyện an toàn lao động định kỳ cho công nhân hiện trường, phấn đấu nâng cao 15% năng suất thao tác chuẩn và giảm thiểu 20% sai sót kỹ thuật trong vòng 6 tháng triển khai.
  • Thiết lập quy trình phối hợp và kiểm soát tiến độ đa phương: Ban Quản lý dự án tỉnh và đơn vị tư vấn giám sát cần số hóa hệ thống báo cáo nhật ký công trình, rút ngắn thời gian xử lý xung đột bản vẽ thiết kế và hiện trường xuống dưới 24 giờ kể từ khi phát sinh yêu cầu điều chỉnh từ quý 4 năm 2024.
  • Cải tiến môi trường làm việc và cơ chế tạo động lực: Doanh nghiệp xây dựng áp dụng chính sách lương thưởng linh hoạt theo năng suất sản phẩm thực tế, trang bị đầy đủ bảo hộ lao động đạt chuẩn và cải thiện cơ sở vật chất sinh hoạt tại lán trại, hướng tới mục tiêu gia tăng 25% mức độ hài lòng và gắn kết của người lao động trong giai đoạn 2024-2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn và học thuật cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Ban Quản lý dự án chuyên ngành và cơ quan quản lý nhà nước: Sử dụng bộ khung 49 yếu tố làm tiêu chuẩn đánh giá năng lực quản trị rủi ro của nhà thầu, phục vụ công tác thẩm định tiến độ và tối ưu hóa quy trình giải ngân vốn đầu tư công tại các địa phương vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.
  • Ban điều hành và Chỉ huy trưởng các nhà thầu thi công: Áp dụng bộ công cụ để tự kiểm toán năng suất hiện trường, nhận diện các lãng phí hữu hình và vô hình, từ đó tái bố trí mặt bằng thi công và chuỗi cung ứng thiết bị đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
  • Đơn vị Tư vấn giám sát và Tư vấn thiết kế: Tham khảo các phân tích nguyên nhân sai lệch giữa thiết kế và thực tế để nâng cao tính khả thi của hồ sơ bản vẽ, thiết lập cơ chế phản hồi thông tin hiện trường nhanh chóng và minh bạch.
  • Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học ngành Quản lý xây dựng: Khai thác phương pháp luận định lượng, thang đo Likert cải tiến và hệ thống cơ sở dữ liệu thực chứng làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu mở rộng cho các đề tài quản lý dự án xây lắp.

Câu hỏi thường gặp

Mức điểm trung bình đánh giá quản lý năng suất 3.84/5.00 phản ánh thực trạng gì tại Bến Tre? Chỉ số 3.84 điểm cho thấy công tác quản lý năng suất tại địa phương đang ở mức cơ bản bước sang giai đoạn phát triển. Các nhà quản lý đã có ý thức chuẩn bị dữ liệu, lập kế hoạch và điều phối tổng thể, song vẫn còn nhiều hạn chế trong khâu bảo đảm vật tư, thiết bị hiện đại và chất lượng nhân sự.

Tại sao nhóm yếu tố Vật liệu và thiết bị lại có điểm số thấp nhất (3.67 điểm)? Nguyên nhân chủ yếu do tỉnh Bến Tre đang thiếu hụt trầm trọng nguồn cát san lấp khi chỉ có duy nhất 1 mỏ được cấp phép khai thác với công suất 180.000 m3/năm. Thêm vào đó, thói quen sử dụng máy móc cũ của các nhà thầu vừa và nhỏ làm gia tăng tần suất hỏng hóc trong quá trình thi công.

Bộ công cụ 49 yếu tố khảo sát trong luận văn có nguồn gốc từ đâu? Bộ công cụ được phát triển dựa trên khung nghiên cứu chuẩn hóa của Đỗ Chí Diễn và Tiến sĩ Lê Hoài Long (2022) tại Trường Đại học Bách Khoa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó được hiệu chỉnh và bổ sung các tiêu chí đặc thù theo điều kiện địa phương thông qua tham vấn chuyên gia.

Quy mô mẫu khảo sát 444 phản hồi có đảm bảo tính đại diện khoa học không? Cỡ mẫu 444 phiếu phản hồi đánh giá trên 49 yếu tố đạt mức độ tin cậy trung bình 3.77 điểm. Mẫu được thu thập từ đầy đủ các chủ thể gồm Chủ đầu tư, Tư vấn giám sát, Tư vấn thiết kế và Nhà thầu, kết hợp phỏng vấn sâu 6 chuyên gia trên 10 năm kinh nghiệm nên hoàn toàn đảm bảo tính khoa học và thực tiễn.

Những yếu tố mới nào được chuyên gia đề xuất bổ sung vào bộ công cụ quản lý? Các chuyên gia đầu ngành kiến nghị bổ sung các yếu tố thuộc về văn hóa doanh nghiệp và quản trị mềm, bao gồm: xây dựng môi trường làm việc thoải mái, tăng cường kênh giao tiếp liên bộ phận, tối ưu hóa kế hoạch giảm thiểu lãng phí và xây dựng chính sách đãi ngộ linh hoạt cho người lao động.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã đánh giá toàn diện thực trạng quản lý năng suất lao động trên công trường xây dựng tại tỉnh Bến Tre với mức điểm trung bình đạt 3.84/5.00.
  • Nhận diện rõ nét điểm mạnh tại nhóm "Thi công và Quản lý" (4.04 điểm) cùng điểm nghẽn nghiêm trọng nhất tại nhóm "Vật liệu và thiết bị" (3.67 điểm) và "Nguồn lực lao động" (3.28 điểm).
  • Đóng góp học thuật quan trọng bằng việc chuẩn hóa và kiểm chứng bộ công cụ 49 yếu tố đánh giá năng suất lao động phù hợp với điều kiện thực tế khu vực Tây Nam Bộ.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi từ cơ giới hóa máy móc, chủ động vật tư đến đào tạo nhân lực và số hóa điều hành công trường trong lộ trình 2024-2026.
  • Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo đáng tin cậy giúp các cơ quan quản lý và nhà thầu xây dựng tại tỉnh Bến Tre tối ưu hóa hiệu quả thực thi dự án, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế hạ tầng bền vững.