đặt vấn đề xây dựng một lôgíc khác thay thế lôgíc hình thức gọi là “lôgíc tiên nghiệm” mà thực chất đó chính là lôgíc biện chứng. Lôgíc biện chứng lần đầu tiên được xuất hiện vào thời cận đại trong công trình “khoa học lôgíc” của Hêghen (1770-1831)- một nhà triết học duy tâm khách quan. Theo Hêghen thì tư duy biện chứng ăn nhập với biện chứng của tư duy và với biện chứng của thực tại. Tất cả theo một lược đồ nhất quán gọi là tam đoạn thức.
ăngghen (1820-1895) đã cải tạo các học thuyết của Hêghen, khái quát các thành tựu của triết học, sáng lập ra phép biện chứng duy vật và được V. Lênin (1870-1924) tiếp tục phát triển. Là một bộ phận của triết học Mác-Lênin, Lôgíc biện chứng với tư cách là khoa học hiện đại về lôgíc, vừa là cơ sở phương pháp luận vừa là công cụ đặc lực của tư duy nhất là tư duy lý luận và khoa học hiện đại. Lôgíc biện chứng trở 6 thành phương pháp khoa học làm cơ sở cho thế giới quan và phương pháp luận để con người nhận thức và cải tạo thế giới.
Đối tượng của logíc học hình thức và lôgíc học biện chứng Triết học duy vật biện chứng đã chỉ rõ mỗi sự vật luôn tồn tại và phát triển trong sự thống nhất của hai trạng thái: Tĩnh và động. Trạng thái tĩnh là tương đối còn trạng thái động là tuyệt đối. Trạng thái tĩnh là trạng thái mà ta xem xét sự vật tại một thời điểm cụ thể, xác định, trong mối liên hệ quan hệ xác định. Trạng thái động là trạng thái mà sự vật được xem xét trong mối liên hệ, quan hệ phổ biến, trong sự vận động và phát triển.
Hai trạng thái ấy tồn tại trong sự quy định lẫn nhau. Tư duy là sự phản ánh của não người về sự vật trong cả hai trạng thái đó. Quá trình phản ánh sự vật vào đầu óc người và cải biến trong đó chính là quá trình tư duy và biểu thị dưới các hình thức khái niệm, phán đoán, suy luận. Các hình thức này không ngừng vận động và chuyển hóa, phát triển.
Trong quá trình vận động và chuyển hóa đó thì chúng luôn nằm trong một thể thống nhất giữa hai trạng thái tĩnh và động. Lôgíc học hình thức nghiên cứu trạng thái tĩnh của quá trình tư duy, còn lôgíc học biện chứng nghiên cứu trạng thái động của quá trình tư duy ấy. Như vậy, lôgíc học hình thức và lôgíc học biện chứng đều nghiên cứu về tư duy của con người, nhưng mỗi khoa học có đối tượng nghiên cứu riêng của nó. Lôgíc học hình thức nghiên cứu cơ cấu hình thành một cách khách quan của quá trình tư duy, mối liên hệ đã được xác định giữa các khái niệm và phán đoán để rút ra hiểu biết mới trong suy lý.
Nghiên cứu cơ cấu lôgíc biểu hiện mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của các tư tưởng con người trong quá trình tư duy, lôgíc hình thức phải tách khỏi nội dung cụ thể của tư duy để vạch ra những mối liên hệ vững chắc, có tính quy luật giữa những hình thức kết cấu của tư duy. Tuy nhiên, tính đúng đắn lôgíc của tư duy cuối cùng phải được kiểm nghiệm bởi nội dung khách quan của nó trong thực tiễn, bởi tính chân lý của các suy lý. 7 Đối tượng tư duy của con người không phải đứng yên bất biến mà luôn vận động và phát triển không ngừng, quá trình tư tưởng phản ánh đối tượng ấy cũng không ngừng vận động, biến đổi và phát triển. Vì vậy, cần phải xem xét nghiên cứu tư duy cả trong sự nảy sinh, biến đổi và phát triển của nó.
Đây chính là đối tượng nghiên cứu của lôgíc học biện chứng. Góc độ nghiên cứu quá trình tư duy của lôgíc học biện chứng là phương pháp tư duy nhận thức sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng, sự biến đổi của bản thân các khái niệm, phán đoán trong quá trình nhận thức. Tóm lại, lôgíc hình thức chỉ quan tâm đến kết cấu của khái niệm trong sự tĩnh tại khi nó đang còn là nó, còn sự vận động của nó như thế nào thì đó là nhiệm vụ của lôgíc biện chứng. Tuy lôgíc học hình thức và lôgíc học biện chứng mỗi khoa học chỉ nghiên cứu một mặt, một trạng thái của tư duy song không thể coi nhẹ hoặc tuyệt đối hoá vai trò của khoa học nào.
Việc tuân thủ các quy luật và hình thức của tư duy lôgíc hình thức là điều kiện cần để hiểu, nắm vững và vận dụng lôgíc biện chứng. Ngược lại lôgíc biện chứng là cơ sở phương pháp luận của lôgíc hình thức. Hai khoa học này phát triển trong sự tác động qua lại chặt chẽ với nhau. Xác định một cách khách quan mối quan hệ giữa hai khoa học này là điều kiện tốt để ngghiên cứu tư duy một cách toàn diện và đầy đủ.
Định nghĩa lôgíc học hình thức Lôgíc hình thức là khoa học nghiên cứu về các hình thức kết cấu và quy luật của tư duy nhằm đạt tới tri thức chân thực. Hình thức lôgic của tư duy là cấu trúc lôgíc của tư tưởng, đó chính là phương thức liên kết các thành phần tư tưởng với nhau. Trong thực tế tư duy, các tư tưởng khác nhau về nội dung song có thể có hình thức kết cấu lại như nhau. Tất cả giáo viên đều học nghiệp vụ sư phạm 2.
Một số sinh viên được đi du học nước ngoài 3. Hình chữ nhật là hình bình hành có một góc vuông 8 Hình thức lôgíc có thể biểu thị bằng các ký hiệu. Cụ thể các phán đoán trên có thể biểu thị bằng ký hiệu như sau: Tất cả S là P; Một số S là P. Cả ba phán đoán đó mặc dầu nội dung khác nhau nhưng chúng đều có điểm chung là có chủ ngữ lôgíc chỉ rõ đối tượng mà ta đang tư duy về nó, có vị ngữ lôgíc phản ánh dấu hiệu được khẳng định đối với đối tượng của tư tưởng, đều có từ nối “là” và lượng từ “tất cả” hoặc “một số”.
Trong phán đoán (1) chủ ngữ lôgíc là khái niệm “giáo viên”, vị ngữ lôgíc là khái niệm “học nghiệp vụ sư phạm”, trong phán đoán (2) chủ ngữ lôgic là khái niệm “sinh viên”, vị ngữ lôgíc là khái niệm “được đi du học nước ngoài”, trong phái đoán (3) chủ ngữ lôgic là khái niệm “hình chữ nhật”, vị ngữ lôgíc là khái niệm “hình bình hành có một góc vuông”. Mối liên hệ giữa đối tượng của tư duy với thuộc tính của nó được thể hiện qua từ nối “là”. Như vậy mặc dầu có nội dung khác nhau nhưng cả ba phán đoán trên đều có cấu tạo lôgíc giống nhau, cùng có một hình thức lôgíc thống nhất. Hai phán đoán sau cũng có một hình thức lôgíc giống nhau: 1.
Nếu hình bình hành có hai cạnh liên tiếp bằng nhau thì hình đó là hình thoi. “ Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa Vui gì hơn là người lính đi đầu” (Tố Hữu) Viết dưới dạng ký hiệu là: Nếu S là P thì S1 là P1 Chúng ta hãy xét hai suy luận sau: 1. Tất cả các số chẵn đều chia hết cho 2 Số 10 là số chẵn Số 10 chia hết cho 2 2. Tất cả các hành tinh đều có dạng hình cầu Sao Kim là một hành tinh Sao Kim cũng có dạng hình cầu Hai suy luận trên có nội dung khác nhau nhưng chúng đều giống nhau về hình thức cấu tạo lôgíc: Cả hai đều có hai phán đoán tiền đề làm cơ sở để rút ra phán đoán thứ ba.
Phán đoán thứ ba là kết luận được tạo thành từ những khái niệm trong các 9 phán đoán xuất phát. Trong các phán đoán xuất phát của hai suy luận đều có một khái niệm chung làm hạt nhân liên kết hai khái niệm trong mỗi kết luận. Trong quá trình tư duy, nội dung và hình thức của tư tưởng liên kết chặt chẽ với nhau, không có nội dung thuần tuý tách khỏi hình thức và không có hình thức lôgic thiếu nội dung. Tuy nhiên, vì mục đích nghiên cứu chúng ta có thể tách nội dung cụ thể ra khỏi hình thức lôgíc của đối tượng để nghiên cứu.
Nghiên cứu hình thức lôgic của tư tưởng là nghiệm vụ quan trọng của khoa học lôgíc hình thức. Quy luật lôgic của tư duy là mối liên hệ bản chất tất yếu bên trong của các đơn vị cấu thành tư tưởng trong quá trình tư duy. Tuân theo các qui luật lôgic là điều kiện tất yếu để đạt tới chân lý. Lôgíc học hình thức có các qui luật cơ bản sau: Quy luật đồng nhất, quy luật cấm mâu thuẫn (còn gọi là quy luật mâu thuẫn), quy luật bài trung (quy luật loại trừ cái thứ ba), quy luật lý do đầy đủ.
Các quy luật và hình thức của tư duy là sự phản ánh các thuộc tính, các đặc điểm, các yếu tố và các mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng đã được lặp đi lặp lại vào ý thức con người. Ngoài các quy luật của lôgíc hình thức, tư duy đúng đắn còn phải tuân theo các quy luật của phép biện chứng duy vật như quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng dẫn đến biến đổi về chất và ngược lại, quy luật phủ định của phủ định. Lôgíc học và ngôn ngữ Các quy luật và hình thức của tư duy là đối tượng của lôgíc học. Ngôn ngữ là hình thức vật chất của các quy luật và hình thức tư duy.
Ngôn ngữ là phương tiện để con người giao lưu và là công cụ để tư duy. Người ta thường chia ngôn ngữ thành ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nhân tạo. Ngôn ngữ tự nhiên là hệ thống tiếng nói và chữ viết được hình thành trong lịch sử xã hội. Ngôn ngữ nhân tạo là hệ thống ký hiệu bổ trợ do con người tạo ra thyeo cách riêng để chuyển giao chính xác, tinh tế các thông tin khoa học cũng như những thông tin khác.
10 Lôgíc hiện đại sử dụng phổ biến ngôn ngữ lôgíc vị từ. Vị từ là biểu thức ngôn ngữ nêu lên thuộc tính hay quan hệ vốn có của đối tượng. Trong câu chúng giữ vai trò vị ngữ. Mệnh đề là biểu thức ngôn ngữ trong đó khẳng định hay phủ định cái gì đó của hiện thực khách quan.
Trong lôgíc học người ta sử dụng các thuật ngữ lôgíc gọi là hằng lôgíc. Gồm các từ: “và” “hoặc” “hay” “nếu .” “tương đương” “không” “không phải” “mọi” “tất cả” “một số” “phần lớn”, “nếu và chỉ nếu” “khi và chỉ khi”,. Trong lôgíc ký hiệu (lôgíc toán) các hằng lôgíc được ký hiệu như sau: + a, b, c,. là các mệnh đề tuỳ ý ; A, B, C, .