CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU Trong chương này, khái niệm hành vi tự hại và sự phổ biến của hành vi tự hại ở trẻ vị thành niên được làm rõ. Tôi cũng trình bày một đánh giá tổng quan về khung lý thuyết, các tài liệu liên quan đến việc tự làm hại bản thân và trải nghiệm của cha mẹ khi có con tự làm hại mình. Các nội dung về câu hỏi nghiên cứu cũng được đề cập vào phần cuối của chương. Vấn đề đạo đức liên quan đến người tham gia nghiên cứu cũng như các chiến lược nhằm giảm bớt những lo ngại về đạo đức cũng được thảo luận trong chương.
Khái niệm hành vi tự hại Nghiên cứu sử dụng khái niệm tự làm hại bản thân (NSSI - non suicidal self injury) được định nghĩa là hành vi cố ý hủy hoại mô cơ thể mà không có ý định tự sát (Nock & Prinstein, 2004). Các hành vi tự làm hại bản thân có thể bao gồm cắt, đầu độc, đốt, bỏng; gãi, cắn đến mức làm rách da, không để vết thương lành lại và nhổ tóc (Fox, 2011). Trong sổ tay Chẩn Đoán và Thống Kê Các Rối Loạn Tâm thần (DSM-5) được sửa đổi gần đây, hành vi tự hại được định nghĩa là hành vi tự gây thương tích nhưng không nhằm mục đích chết mà để cố ý gây tổn thương cơ thể (ví dụ như cắt, đốt, đâm, đánh, cọ xát quá mức). Tự làm hại bản thân được giới thiệu như một danh mục cần được nghiên cứu thêm.
Hành vi tự hại ở trẻ tuổi vị thành niên Tự tử và tự làm hại bản thân là một trong những vấn đề được quan tâm ở độ tuổi vị thành niên trong những năm gần đây tại Việt Nam. Trong một báo cáo năm 2009, tỉ lệ tự làm hại ở thanh niên và tuổi vị thành niên (14 tuổi - 25 tuổi) ở Việt Nam xấp xỉ 7,5% (SAVY 2, 2009). Một nghiên cứu được thực hiện tại 7 trường THCS ở thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương cho kết quả có đến gần 27% học sinh có những hành vi tự hủy hoại bản thân với các phương thức như tự cắt xén, bứt tóc; tự khắc lên da thịt; tự đầu độc; tự cắn, cào, đánh, đấm mình…(Huỳnh Văn Sơn và cộng sự, ĐỀ TÀI: TRẢI NGHIỆM CỦA CHA MẸ KHI CON CÓ HÀNH VI TỰ HẠI: MỘT NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH. Trên thế giới, tỷ lệ tự gây thương tích trong dân số chiếm từ 1% đến 4% (Sleuwaegen và cộng sự, 2017); trong đó, ước tính có 16% - 18% số người ở độ tuổi vị thành niên thực hiện hành vi tự hại (Swannell và cộng sự, 2014; Muehlenkamp và cộng sự, 2012).
Một tài liệu được tổng hợp dựa trên 20 nghiên cứu định tính về trải nghiệm làm hại bản thân ở trẻ vị thành niên (12 tuổi – 18 tuổi) đã xác định có bốn chủ đề liên quan đến trải nghiệm chủ quan của người tham gia về việc tự làm hại bản thân (Stanicke và cộng sự, 2018). Các chủ đề phản ánh mối liên hệ giữa việc tự làm hại bản thân với các nhu cầu và thách thức tâm lý ở tuổi vị thành niên chẳng hạn như sự tách biệt, tự chủ và hình thành bản sắc. Cụ thể: Thứ nhất, tự làm hại bản thân như một cách để giải thoát hoặc giảm nhẹ gánh nặng, cảm xúc khó khăn (Stanicke và cộng sự, 2018). Với lập luận, việc giải phóng cảm xúc, áp lực và đau khổ bị dồn nén là điều cần thiết.
Sau khi giải tỏa cảm xúc, thanh thiếu niên chia sẻ rằng họ cảm giác nỗi đau, sự căng thẳng có xu hướng giảm đáng kể. Ngoài ra, thanh thiếu niên thực hiện hành vi tự hại được xem xét như một cách thức giúp họ cảm thấy bản thân mình còn tồn tại, ví như nhu cầu nhìn thấy những vết cắt, những giọt máu để biết rằng họ vẫn còn sống. Thứ hai, tự làm hại bản thân như một cách để kiểm soát hoặc đối phó với những cảm giác khó khăn (Stanicke và cộng sự, 2018). Thanh thiếu niên mô tả việc sử dụng hành vi tự làm hại để thoát khỏi nỗi đau về cảm xúc, chẳng hạn như lo lắng, tức giận, trầm cảm; để loại bỏ những suy nghĩ và cảm xúc khó khăn sau những trải nghiệm đau thương hoặc để kết thúc trạng thái phân ly.
Việc thay thế nỗi đau tinh thần thành nỗi đau thể xác cũng giúp thanh thiếu niên cảm giác có thể kiểm soát sự bất ổn, vốn dĩ là điều không dễ gọi tên. Một số thanh thiếu niên chia sẻ việc tự hại bản thân là lựa chọn cuối cùng như là một cách để đối phó khi cảm nhận không còn cách nào hữu ích hơn. ĐỀ TÀI: TRẢI NGHIỆM CỦA CHA MẸ KHI CON CÓ HÀNH VI TỰ HẠI: MỘT NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH. 5i Thứ ba, tự làm hại bản thân như một cách để thể hiện những cảm xúc không được chấp nhận (Stanicke và cộng sự, 2018).
Tự làm hại bản thân cũng có thể là một cách để giải tỏa tâm trí của một người và thiết lập ranh giới với người khác. Thứ tư, tự gây hại bản thân như một cách để kết nối với những người khác (Stanicke và cộng sự, 2018). Hành vi tự làm hại được xem như một phần của quá trình tìm kiếm danh tính. Thanh thiếu niên sử dụng hành vi tự hại như một cách để bày tỏ nỗi đau tinh thần với người khác, cũng như tìm kiếm sự giúp đỡ về các vấn đề của họ.
Hành vi tự hại bản thân có thể xảy ra ở bất kỳ đối tượng nào, bao gồm người trẻ, tuổi già và bệnh nhân mắc các chứng tâm thần. Tự gây thương tích cũng được nhìn nhận khác nhau giữa các nhóm và nền văn hóa trong xã hội. Về mức độ phổ biến, nhiều nghiên cứu tập trung vào việc tự làm hại ở thanh thiếu niên. Madge và cộng sự (2008) đánh giá tỷ lệ tự làm tổn hại bản thân ở trẻ từ 14 tuổi đến 17 tuổi đến từ 7 quốc gia châu Âu trung bình là 13,5% ở nữ và 4,3% ở nam.
Ngoài ra, một số nghiên cứu chỉ ra rằng việc tự làm hại bản thân thường xảy ra lần đầu tiên ở tuổi vị thành niên (Muehlenkamp và cộng sự, 2012). Hành vi tự gây thương tích là một cách tiêu cực để các cá nhân đối phó với các vấn đề hiện tại (Sornberger và cộng sự, 2013), và gây tổn hại lớn đến sức khỏe tâm thần của thanh thiếu niên (Guvendeger và cộng sự, 2017; Baetens và cộng sự, 2019). Thanh thiếu niên sử dụng hành vi tự làm hại như một phương tiện để đối phó với hàng loạt trải nghiệm tiêu cực như lo lắng, trầm cảm hoặc các sự kiện căng thẳng (Kvernmo & Rosenvinge, 2009). Một số thanh thiếu niên có thể tự cắt xén bản thân để chấp nhận rủi ro, nổi loạn, từ chối các giá trị của cha mẹ, nêu rõ cá tính của mình hoặc chỉ đơn thuần là mong muốn được chấp nhận.
Những người khác có thể tự gây thương tích vì tuyệt vọng hoặc tức giận để tìm kiếm sự chú ý, để thể hiện sự vô vọng và vô dụng của họ, hoặc vì họ có ý định tự tử. Những đứa trẻ này có thể bị các vấn đề tâm thần nghiêm trọng như trầm cảm, rối loạn tâm thần, rối loạn căng thẳng sau chấn thương và rối loạn lưỡng cực. ĐỀ TÀI: TRẢI NGHIỆM CỦA CHA MẸ KHI CON CÓ HÀNH VI TỰ HẠI: MỘT NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH. 6i Độ tuổi vị thành niên được chọn cho nghiên cứu vì nghiên cứu ủng hộ quan điểm cho rằng tuổi vị thành niên là độ tuổi bắt đầu các hành vi tự làm hại bản thân thường xuyên nhất (Whitlock, Eckenrode & Silverman, 2006).
Trong nghiên cứu của Whitlock và cộng sự (2006) cũng phát hiện ra rằng những người trưởng thành tự làm hại bản thân có những đặc điểm khác với những thanh thiếu niên tự làm hại mình. Cụ thể, những người trưởng thành tự làm hại bản thân có nhiều khả năng có ý định tự sát. Do đó, phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn ở các bậc cha mẹ của trẻ vị thành niên tự làm hại bản thân. Hành vi tự hại dưới góc nhìn của các học thuyết tâm lý Hủy hoại con người là một hành vi phát triển cổ xưa, tiếp đến là mất hy vọng và cuối cùng là cái chết.
Sự hủy diệt của con người có thể được xác định bằng màu đỏ, tượng trưng cho sự nguy hiểm, máu và cái chết. Hành vi tự làm hại bản thân có thể bắt nguồn từ nhiều yếu tố, bao gồm cả các yếu tố sinh học (phản ứng tâm sinh lý bất thường đối với tổn thương, suy giảm chuyển hóa serotonin và endorphin,.), sự thay đổi tính cách (trầm cảm, bốc đồng, rối loạn tâm thần, rối loạn dạng cơ thể,…) và các điều kiện xã hội và môi trường ảnh hưởng đến thanh thiếu niên trong giai đoạn phát triển (bối cảnh hệ thống gia đình, mối quan hệ với bạn bè bị gián đoạn, học tập kém,…). Các lý thuyết tâm lý thường tập trung vào nguyên nhân và tính mục đích của hành vi tự hại. Trong các bài viết của Freud (1926), ông đã nêu rõ một mô hình sang chấn trong đó một sự kiện đau thương được đặc trưng bởi trải nghiệm của sự bất lực, dẫn đến sự lo lắng dữ dội (tín hiệu lo lắng) báo động bản ngã để tránh sự lặp lại trong tương lai.
Theo cách này, Freud gợi ý rằng trải nghiệm sang chấn có thể khiến cá nhân trở nên quá nhạy cảm với những dấu hiệu tiềm ẩn của sang chấn sắp xảy ra. Quá trình này gợi lên một trạng thái lo lắng khó nói và có tính báo động cao buộc người đó phải hành động ngay lập tức. Hành vi tự hại phản ánh sự đảo ngược của việc thay vì là nạn nhân đau khổ thành sự ngược đãi do bản thân tự tạo ra với mục đích đạt được cả cảm giác làm chủ trải nghiệm ban đầu, cũng như khả năng kiểm soát. ĐỀ TÀI: TRẢI NGHIỆM CỦA CHA MẸ KHI CON CÓ HÀNH VI TỰ HẠI: MỘT NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH.
7i Lý thuyết về hành vi cũng được đề cập trong những nghiên cứu về hành vi tự hại, cụ thể là sự kết hợp giữa quan điểm học tập xã hội của Bandura (1973) và mô hình của Skinner (1953) trong việc lý giải về hành vi tự hại. Trong đó, giả thuyết học tập xã hội của Bandura (1973) nhấn mạnh vai trò của mô hình xã hội hóa, bắt chước và học tập gián tiếp trong việc hiểu về sự bắt đầu của hành vi tự hại. Các quá trình học tập xã hội có thể góp phần vào việc hình thành các hành vi tự hại, sau đó được củng cố bởi các yếu tố khác.