MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. Giao tiếp là một điều kiện tất yếu không thể thiếu được trong hoạt động của con người. Cùng với hoạt động giao tiếp đã trở thành một phương thức tồn tại của xã hội loài người.
Các Mác đã chỉ ra rằng: "Sự phát triển của mỗi cá nhân được quy định bởi sự phát triển của tất cả các cá nhân khác mà nó giao lưu một cách trực tiếp và gián tiếp với họ" [22; 183]. Với vai trò quan trọng như vậy, giao tiếp luôn được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Mỗi tác giả nghiên cứu đều gắn liền với một lĩnh vực cụ thể như: Giao tiếp sư phạm, giao tiếp trong quản lý, giao tiếp trong kinh doanh… Song, trong quá trình nghiên cứu về giao tiếp, các tác giả ít quan tâm nghiên cứu sâu về giao tiếp của người nghỉ hưu. Trong đời sống văn hoá cổ truyền Việt Nam, tuổi tác và kinh nghiệm có vai trò đặc biệt quan trọng.
Nắm giữ vốn văn hoá của dân tộc, bảo lưu và truyền bá chúng là những người cao tuổi nói chung. Tính chất truyền miệng, bất thành văn đã tạo nên một vị thế đáng kính nể của người cao tuổi trong đời sống văn hoá cổ truyền. Người nghỉ hưu là một bộ phận đặc biệt trong những người cao tuổi. Đó là lớp người đã có nhiều cống hiến cho xã hội, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống.
Lớp người cao tuổi ấy thường có độ nhạy cảm cao với những đụng độ trong cuộc sống, đặc biệt là thuộc các khía cạnh tinh tế trong ứng xử xã hội động chạm đến đời sống tinh thần. Họ dễ bị tổn thương và bị khuấy động đối với những ứng xử mà với mỗi nhóm xã hội khác có thể không có ảnh hưởng gì. Do sự thay đổi căn bản lối sống và hoạt động, thay đổi vị trí, vai trò xã hội và môi trường sống nên người nghỉ hưu phải đối mặt với nhiều vấn đề trong cuộc sống nói chung và trong giao tiếp nói riêng. Những vấn đề này nếu không được quan tâm, giải quyết ổn thoả sẽ tác động xấu đến tâm lý, sức khoẻ của họ và có thể gây những ảnh hưởng tiêu cực đối với cuộc sống của những người thân trong gia đình họ.
Gia đình và xã hội phải có trách nhiệm chăm lo cả về vật chất và tinh thần cho người nghỉ hưu. Chính vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu những đặc trưng giao tiếp của người nghỉ hưu có ý nghĩa to lớn về mặt thực tiễn cũng như lý luận. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Việt Nam trước đây, do nhiều nguyên nhân như chiến tranh, đói nghèo… trong một thời gian dài, vấn đề người cao tuổi cũng như người nghỉ hưu ít được chú ý tới. Những năm gần đây, vấn đề này đã bắt đầu được quan tâm, chú ý.
Nội dung chủ yếu nhằm chăm sóc sức khoẻ thể chất cũng như tinh thần cho người cao tuổi, giúp người cao tuổi tìm thấy niềm vui cuộc sống trong quãng đời còn lại. Một số các cơ quan đã phối hợp mở các cuộc điều tra xã hội học về người cao tuổi, người nghỉ hưu hoặc tổ chức các cuộc hội thảo khoa học bàn về các vấn đề của người cao tuổi… Nhìn chung các nghiên cứu về người nghỉ hưu chỉ được đề cập đan xen trong các nghiên cứu về người cao tuổi hoặc nếu có thì mới đề cập đến độ tuổi thích hợp để nghỉ hưu, các chế độ xã hội đối với người nghỉ hưu, còn thiếu những công trình tiếp cận người nghỉ hưu từ góc độ tâm lý nói chung và giao tiếp nói riêng. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn hướng nghiên cứu này. ĐỐI TƢỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 2.ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU Giao tiếp của người nghỉ hưu trên địa bàn thành phố Hà Nội.
KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU - Những người đã nghỉ hưu hiện đang sống ở Hà Nội (225 người) - Người thân của người nghỉ hưu (vợ, chồng, con cái: 6 người) 3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Tìm hiểu thực trạng giao tiếp của người nghỉ hưu ở Hà Nội, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giao tiếp của người nghỉ hưu. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU. Xác định những vấn đề lý luận cơ bản về giao tiếp của người nghỉ hưu: Khái niệm; các hình thức giao tiếp; chức năng; vai trò của giao tiếp.
Nghiên cứu thực trạng giao tiếp của người nghỉ hưu ở Hà Nội. Đề xuất một số kiến nghị góp phần nâng cao đời sống tinh thần của người nghỉ hưu. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Người nghỉ hưu có nhu cầu giao tiếp cao, đối tượng giao tiếp hẹp và nội dung giao tiếp thiên về những vấn đề sức khoẻ và cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Giao tiếp của người nghỉ hưu bị ảnh hưởng nhiều hơn của các yếu tố: Giới tính, độ tuổi, thời gian nghỉ hưu và cương vị công tác trước khi nghỉ hưu 6. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU. Giới hạn nội dung nghiên cứu.
Đề cương chỉ tập trung tìm hiểu về giao tiếp của những người đã nghỉ hưu. Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Do người nghỉ hưu chủ yếu làm việc và sống ở nội thành nên chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu trong nội thành của thành phố Hà Nội. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 7. Phương pháp chuyên gia 7. Phương pháp trắc nghiệm. Phương pháp phỏng vấn sâu 7.
Phương pháp nghiên cứu chân dung 7. Phương pháp phân tích kết quả hoạt động 7. Phương pháp thống kê toán học. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Noi CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.
TỔNG QUAN LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về giao tiếp 1. Nghiên cứu giao tiếp ở nước ngoài Giao tiếp là vấn đề được nhiều tác giả nghiên cứu trong khoa học nói chung và tâm lý học nói riêng. Trên bình diện triết học, từ thời cổ đại, nhà triết học Sôcơrat (470 - 399tr.
CN) và Platôn (428 - 347 Tr. CN) đã coi đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ, phản ánh các mối quan hệ giữa con người với con người. Đây là tư tưởng đầu tiên, đơn giản về giao tiếp. - Thế kỷ XIX có nhiều nhà triết học đề cập đến vấn đề giao tiếp như Hegel (1770 - 1831); Feuerbach (1804 - 1872); Karl Marx (1818 - 1883).
- Feuerbach đã viết: "Bản chất của con người chỉ thể hiện trong giao tiếp, trong sự thống nhất giữa con người với con người, dựa trên tính hiện thực của sự khác biệt giữa tôi và bạn" [ theo 5; 16]. - Trong "Bản thảo kinh tế triết học" 1884, Karl Marx đã có tư tưởng về nhu cầu xã hội giữa con người và con người. Trong hoạt động xã hội và tiêu dùng xã hội, con người phải giao lưu thực sự với người khác. Karl Marx đã thấy được nhu cầu giao tiếp giữa con người với con người trong xã hội có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi con người.
Ông cho rằng: Thông qua giao tiếp với người khác mà con người có thái độ với bản thân mình, với người khác và giao tiếp với người khác là chiếc gương để mỗi người tự soi mình. Karl Marx đã dùng khái niệm "giao tiếp vật chất" để chỉ mối "quan hệ sản xuất thực tiễn của con người. Ông đã chỉ ra rằng sản xuất vật chất và tái sản xuất loài người buộc con người phải giao tiếp với nhau. Con người chỉ trở thành người khi nó có quan hệ hiện thực với người khác [theo 5; 16].
Trong một thời gian dài, giao tiếp chưa được nghiên cứu dưới góc độ khoa học tâm lí. Chỉ đến thế kỉ XX, giao tiếp mới được các nhà tâm lí học thật sự (LUAN.Noi 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Noi quan tâm. Hiện nay, có thể phân những công trình nghiên cứu giao tiếp thành hai dòng: nghiên cứu lí luận giao tiếp và nghiên cứu giao tiếp ứng dụng. Nhóm các nhà nghiên cứu giao tiếp ứng dụng nghiên cứu áp dụng tâm lí học giao tiếp vào trong các thể loại giao tiếp cụ thể trong các nhóm xã hội cụ thể.
Các nghiên cứu lí luận giao tiếp có thể được phân theo hai hướng chính. Hướng thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về giao tiếp như: bản chất, cấu trúc giao tiếp, cơ chế giao tiếp….Hướng thứ hai, nghiên cứu giao tiếp trong các chuyên ngành tâm lý học.Trong hướng thứ nhất có thể quy vào ba quan điểm. Quan điểm thứ nhất coi giao tiếp là một loại hình của hoạt động, quan điểm thứ hai coi giao tiếp là một phạm trù độc lập với hoạt động, quan điểm thứ ba coi giao tiếp là quá trình truyền thông có điều khiển. Hướng thứ nhất: 1.
Quan điểm coi giao tiếp là một dạng, một loại hình của hoạt động. Quan điểm này do A. Leonchev khởi xướng vào thập kỉ 30 của thế kỉ XX. Ông định nghĩa: “giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích, có động cơ bảo đảm sự tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các hoạt động tâm lí và sử dụng những phương tiện đặc thù, trước hết là ngôn ngữ” [ 8; 345].
Leonchev, giao tiếp là một dạng của hoạt động. Một dạng đặc biệt của hoạt động có đối tượng, có thể là phương thức và điều kiện của hoạt động có đối tượng, vì có cấu trúc và đầy đủ các đặc điểm cơ bản của hoạt động như tính chủ thể, tính đối tượng, tính mục đích và vận hành theo nguyên tắc gián tiếp. Leonchiev cho rằng hoạt động giao tiếp là hoạt động xã hội [8, 364] và được chia thành hai kiểu cơ bản: giao tiếp định hướng - đối tượng và giao tiếp "thuần tuý"[8, 356 -357]. Hoạt động giao tiếp “thuần tuý” phân thành hoạt động giao tiếp định hướng xã hội và hoạt động giao tiếp định hướng nhân cách.
Trong hoạt động giao tiếp định hướng nhân cách có hai kiểu: hoạt động giao tiếp nói và hoạt động giao tiếp hình thức.Noi 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Noi Do không chỉ ra được định nghĩa chung cho chủ thể và khách thể của hoạt động giao tiếp [ 8; 364]… ông đã đưa ra định nghĩa riêng cho chủ thể và đối tượng cho từng loại của hoạt động giao tiếp [ 8; 360 - 361]. Trong hoạt động giao tiếp định hướng - đối tượng, chủ thể và đối tượng của giao tiếp vẫn được giữ nguyên như trong các loại hình hoạt động khác.