Chương 1, chúng tôi giới thiệu các nghiên cứu dich té về RLTC, các nghiên cứu về những yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với người có trầm cảm và những ảnh hưởng của tram cảm đối với cuộc sống của cá nhân. Trong Chương này, chúng tôi cũng làm rõ các khái niệm chính của nghiên cứu và quan điểm của trị liệu Nhận thức — Hanh vi trong việc áp dụng can thiệp với người có RLTC. Tổng quan về tram cảm ở người trưởng thành và phương pháp can thiệp 1. Điểm luận một số nghiên cứu về tram cảm ở người trưởng thành Các nghiên cứu trên thé giới Theo WHO (2016), Khảo sát Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Ấn Độ năm 2015 — 2016 cho thấy cứ 20 người trưởng thành thì có một người mắc tram cảm.
Một cuộc khảo sát khác của B. Arvind và cộng sự (2019) trên 34.802 người từ 18 tuổi trở lên dé ước tính tỉ lệ RLTC từ năm 2015 — 2016 và tác động của RLTC đối với kinh tế - xã hội của An Độ. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mac RLTC trong suốt cuộc đời của người trưởng thành tại Ấn Độ là 5,25% và hiện tại là 2,68%; nhóm 40 — 49 tudi có tỉ lệ mắc cao nhất (7,47%); nữ giới (5,72%) cao hơn nam giới (4,75%); tỉ lệ mắc trầm cảm trong suốt cuộc đời cũng cao hơn ở nhóm người cư trú tại các thành phố có dân số >1 triệu người (8,23%) và những người góa bụa/ly hén/ly thân (11,23%) [19, tr. Brody và các cộng sự (2018) đã thực hiện một khảo sát để xem xét tỉ lệ trầm cảm ở người trưởng thành từ 20 tuổi trở lên trong giai đoạn 2013 — 2016 ở Hoa Kỳ.
Kết quả khảo sát cho thấy: (1) 8,1% người trưởng thành từ 20 tuổi trở lên mắc trầm cảm trong khoảng thời gian ít nhất 2 tuần; (2) phụ nữ (10,4%) có khả năng mắc trầm cảm cao gần gấp đôi so với nam giới (5,5%); (3) những người gốc Á có tỉ lệ trầm cảm thấp hơn so với những người da trắng gốc Tây Ban Nha hoặc so với người nhập cư không phải gốc Tây Ban Nha; (4) tỉ lệ trầm cảm giảm khi mức thu nhập gia đình tăng lên; (5) khoảng 80% người trưởng thành mắc trầm cảm cho biết họ gặp Ít nhất một khó khăn trong các khía cạnh như công việc, gia đình và các hoạt động xã hội vì vấn đề trầm cảm của bản thân [21, tr. Rối loạn tâm thần vốn là nguyên nhân hàng đầu gây ra gánh nặng liên quan đến sức khỏe toàn cầu, và trầm cảm là một trong những nguyên nhân đóng góp hàng đầu cho gánh nặng này. Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của đại dịch COVID — 19 đã tạo điều kiện khiến cho sức khỏe tâm thần bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn. Ké từ khi đại dich COVID — 19 bùng phát, có nhiều băng chứng nghiên cứu trên thé giới về ảnh hưởng của đại dịch đến sức khỏe tâm thần.
Theo WHO (2023), đại dịch COVID — 19 đã làm tỉ lệ mắc tram cảm trên toàn thế giới tăng khoảng 25% và mười quốc gia có tỉ lệ dân số mắc tram cảm cao nhất là Ukraina, Hoa Ky, Estonia, Uc, Brazil, Hy Lap, Bồ Đảo Nha, Belarus, Phan Lan, Litva. Theo khảo sát của Our World in Data (2023), ước tính khoảng 3,4% (2 — 6% khi bao gồm cả sai số) dân số toàn cầu mắc tram cảm, tương đương khoảng 264 triệu người trên toàn thế giới. Trong đó, cứ khoảng sáu người trưởng thành thì có một người sẽ mắc trầm cảm vào một thời điểm nào đó trong đời [61]. Tại Trung Quốc, Yan — Jie Zhao và cộng sự (2021) đã thực hiện một đánh gia có hệ thống và phân tích tổng hợp để ước tính tỉ lệ trầm cảm ở người trưởng thành.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mắc trầm cảm của người trưởng thành ở Trung Quốc trong suốt cuộc đời là 1,8%; tỉ lệ mắc trầm cảm ở nông thôn (2,0%) cao hơn ở thành thị (1,7%); phụ nữ có nguy cơ mắc trầm cảm cao hơn nam giới; và những người phụ nữ ly hôn hoặc tái hôn có tỷ lệ mắc tram cảm cao nhất so với các nhóm phụ nữ khác về tình trạng hôn nhân trong phân tích tong hợp này [51, tr. Tuy nhiên, khi dai dich COVID — 19 bùng phát dường như tỉ lệ này có thé đã thay đối. Weina — Lu và cộng sự (2022) đã thực hiện một khảo sát trực tuyến trên 14.493 người trên nhiều tỉnh, thành khác nhau dé xem xét ti lệ mắc tram cảm ở người trưởng thành tại Trung Quốc khi đại dịch COVID — 19 xảy ra. Kết quả khảo sát cho thấy mỗi tỉnh có tỉ lệ mắc trầm cảm khác nhau, tuy nhiên, tỉ lệ trung bình là 6,3% [51, tr.
Mazza (2021), các cuộc điều tra của nhóm nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc các triệu chứng trầm cảm lâm sàng ở những người sống sót sau COVID - 19 dao động từ 21 — 45%. Từ các bằng chứng hiện có, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng bệnh nhân nữ (46 — 50%) có khả năng gặp phải các triệu chứng tram cảm cao hơn so với nam giới (32 — 39%). Ngoài ra, mức độ nghiêm trọng của COVID - 19 cũng có ảnh hưởng đến mức độ của các triệu chứng tram cảm. Deng và các cộng sự (2020) đã tìm thấy tần suất các triệu chứng trầm cảm tăng lên ở bệnh nhân nhập viện (48%) so với bệnh nhân ngoại trú (35%).
Hầu hết những người sống sót sau COVID — 19 đều trải qua các triệu chứng tram cảm ở mức độ nhẹ và trung bình (Dong và cộng sự, 2021) [37, tr. Các nghiên cứu tại Việt Nam Nghiên cứu của Trần Quỳnh Anh và các cộng sự (2017) về RLTC trên nhóm người trưởng thành tại địa bàn xã Chiềng Den, thành phố Sơn La, tinh Sơn La. Nhóm nghiên cứu đã thực hiện đánh giá sàng lọc 3675 người trưởng thành trên toàn xã, sau đó tiến hành khám va chân đoán với những trường hợp nghỉ ngờ có dấu hiệu trầm cảm kết hợp. Sau khám sàng lọc, nhóm nghiên cứu đã phát hiện 452 trường hợp có dấu hiệu trầm cảm, chiếm 12,9% trên tổng số người tham gia khảo sát.
Nhóm tuổi có dấu hiệu trầm cảm nhiều nhất là 50 — 59 tuổi (124 trường hợp), tiếp theo là nhóm 40 — 49 tuổi (94 trường hợp). Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ có dau hiệu trầm cảm ở nữ cao hơn nam, tập trung nhiều nhất ở nhóm tuổi 50 — 59 [2, tr. Một nghiên cứu khác của Nguyễn Tấn Đạt và các cộng sự (2017) được thực hiện nhằm xác định tỷ lệ tram cảm và một yếu tố liên quan đến tram cảm ở người trưởng thành tại thành phố Cần Thơ. Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 449 người từ 18 — 60 tuổi tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Tho từ tháng 9/2016 đến 6/2017 và sử dụng Thang đo tram cảm PHQ — 9.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Có 16% (72/449) đối tượng được chân đoán RLTC. Trong số 72 đối tượng tram cảm, 76,4% có biểu hiện tram cảm ở mức độ nhẹ, 18,1% mức độ vừa, 5,5% mức độ nặng. Khi xem xét các yếu tố liên quan tới trầm cảm, kết quả cho thấy bệnh mạn tính; tính cách trầm tính/dễ xúc động; thất bại trong công việc/học tập; tiền sử gia đình có người bị tâm thần; gia đình không hạnh phúc, người thân mắt/bệnh nặng là 7 yếu tô được xác định là nguy cơ cao với RLTC trên tổng số 19 yếu tố được đưa vào xem xét sự liên quan [7, tr. Dịch COVID - 19 bùng phát đã tác động tới nhiều khía cạnh trong đời sống của người dân, trong đó không thé không kể tới sức khoẻ tâm thần.
Ở đối tượng người trưởng thành trẻ, nghiên cứu của Phan Nguyệt Hà và Trần Thơ Nhị thực hiện từ tháng 11/2021 — 6/2022 dé xem xét tỷ lệ tram cam ở sinh viên trường Đại học Y Hà Nội năm học 2020 — 2021 trong bối cảnh đại dịch COVID — 19 cho thấy có 57,1% sinh viên có nguy cơ mắc trầm cảm. Trong đó, trầm cảm mức độ nhẹ là 16,5%, trầm cảm mức độ vừa là 25,1%, trầm cảm mức độ nặng là 7,1%, và rất nặng là 8,4%. Các yếu tố liên quan đến nguy cơ trầm cảm ở sinh viên được tìm thấy là: Khó khăn tài chính, khó khăn với học trực tuyến và liên quan tới COVID — 19. Cụ thể: Sinh viên khó khăn tài chính có nguy cơ bị trầm cảm cao hơn 2 lần so với sinh viên không khó khăn tài chính; sinh viên gặp khó khăn khi học trực tuyến có nguy cơ bị tram cảm cao gấp hơn 2 lần so với sinh viên không gặp khó khăn khi học trực tuyến; sinh viên lo lắng rằng mình có khả năng mắc bệnh có nguy cơ bị trầm cảm cao gấp 1,5 lần so với sinh viên không lo lắng; những sinh viên có cảm giác sợ hãi về nhà vì có khả năng lây nhiễm bệnh cho gia đình và lo ngại vì việc học tập hoặc các hoạt động ngoại khóa bị gián đoạn có nguy cơ bị trầm cảm cao gấp hơn 2 lần so với nhóm không có những lo lắng này [9, tr.
Tỷ lệ trầm cảm có sự khác nhau tùy theo độ tuôi, giới tính, thu nhập và hành vi sức khỏe (Debra J. Sự gia tăng tỉ lệ tram cảm được báo cáo qua các cuộc điều tra có thể cho thấy một dấu hiệu tích cực rằng sỐ lượng người được chan đoán, đang tìm kiếm và được tiếp cận hỗ trợ đang gia tăng. Điều này cho thấy người dân có thể có sự nhìn nhận cởi mở hơn về các rối loạn tâm thần nói chung và RLTC nói riêng, đồng thời cũng khiến mọi người có nhiều khả năng tìm kiếm sự trợ giúp hơn khi họ cần. Các yếu to liên quan tới tram cảm ở người trưởng thành Các yếu tổ về sinh học Về yếu tô sinh học.
Có nhiều nghiên cứu đã xem xét mối liên hệ giữa hậu quả của tram cảm và các yếu tố liên quan đến sức khỏe thé chất. Trong các kết quả được tìm thấy thì ung thư não và tiêu đường thai kỳ có liên quan đến các triệu chứng tram cảm (Olivia Remes và cộng sự, 2021) [42, tr. Theo Winter G và cộng sự (2018), Wei — jie LV và cộng sự (2019), Stower H và cộng sự (2019), Zalar B và cộng sự (2019), sự mất cân bằng vi khuẩn đường ruột có thể cản trở quá trình điều chỉnh cảm xúc và góp phần gây ra rối loạn cảm xúc [42, tr.