CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tong quan lịch sử nghiên cứu vấn dé [.] Nghiên cứu k¥ năng, k¥ nang giao tiép trén thé giới Ngay từ thời cổ đại Arixtôt (384 — 322 TCN) trong cuốn sách “Ban về tâm hồn”, cuốn sách đầu tiên của loài người bàn về tâm lý học đã quan tâm đến kỹ năng hoạt động nói chung. Theo ông nội dung của phẩm hạnh là: “Biết định hướng, biết làm việc, biết tìm tòi”; điều đó có nghĩa là: Con người có phẩm hạnh là con người có kỹ năng làm việc. [3] Đến những nam đầu thế ky XX, tâm lý học hành vi ra đời với đại điện là J. Thordai cũng đã bàn tới vấn đề rèn luyện kỹ năng trong việc hình thành hành vi.
[23] Nhìn chung các nhà tâm lý học phương Tây khi nghiên cứu kỹ năng của con người thường chú trọng vào mục đích làm sao có thể tăng được năng suất lao động một cách tối đa nhất. Có lẽ vì vậy nên họ giành nhiều tâm huyết của mình để tìm hiểu kỹ năng lao động của người công nhân trong quá trình vận hành máy móc. Các nhà nghiên cứu Xô Viết cũng giành nhiều thời gian vào việc nghiên cứu về kỹ năng trong đó có KNGT như A. Đặc biệt, dưới ánh sáng của lý thuyết hoạt động hàng loạt những công trình nghiên cứu về kỹ năng, kỹ xảo đã được công bố.
Đó là các nghiên cứu của B. Những công trình nghiên cứu này giúp chúng ta hiểu được con đường hình thành kỹ năng cũng như điều kiện để hình thành kỹ năng (tri thức và kinh nghiệm) của chủ thể hoạt động. Theo ho, muốn hình thành kỹ năng trong một lĩnh vực nào đó, trước hết phải cung cấp các tri thức về hoạt động đó cho người hoc.[32] Một số tác gia khác lại quan tâm tới việc phân loại kỹ nang và các đặc điểm cụ thể của chúng như A. 6 Khi chia kỹ năng ra thành kỹ năng bậc thấp và kỹ năng bậc cao các tác giả nhân mạnh tới kỹ nang bậc cao của những hành động phức tạp.
trong những hoàn cảnh không ổn định. Theo họ kỹ xảo đã có là thành phần của kỹ năng. [3] Xavier Rogier lai xem kỹ nang như là một biểu hiện của nang lực va không có một kỹ năng nào tôn tại dưới dạng thuần khiết, mọi kỹ năng đều được biểu hiện thông qua những nội dung cụ thể. Theo tác giả kỹ năng được phân ra thành hai nhóm: nhóm kỹ năng nhận thức và nhóm kỹ năng hoạt động tay chân.
[26] Còn nhà tâm lý học V. Dakharov đã giành nhiều công sức để phân loại các nhóm kỹ năng giao tiếp. Trong trắc nghiệm giao tiếp của mình ông đã đưa ra 10 nhóm kỹ năng giao tiếp. Đó là sự phân định khá rõ ràng mach lạc; nghiên cứu của ông tới nay vẫn còn giá trị lớn, đặc biệt trắc nghiệm này hiện nay vẫn được sử dụng tại Việt Nam.
[24] Dưới góc độ của tâm lý học quản lý, với mục đích nâng cao hiệu quả của công tác tổ chức và công tác quản lý, các nhà nghiên cứu cũng đã tập trung đi sâu nghiên cứu kỹ năng giao tiếp trong quản lý. Tuy xuất phát từ những hướng đi khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất ở quan điểm cho răng kỹ năng, kỹ năng giao tiếp không phải tự dưng mà có, muốn hình thành được kỹ năng nói chung, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp của người quản lý thì chủ thể cần phải có tri thức về lĩnh vực đó và cần phải tích cực tham gia vào hoạt động. Như vậy việc nghiên cứu kỹ năng nói chung, kỹ năng giao tiếp nói riêng của các tác gia nước ngoài ở một mức nào đó đã thu được những hiệu qua nhất định. Kết quả cung cấp cho chúng ta những tri thức khoa hoc trong việc nhìn nhận vai trò cụ thể của kỹ năng đối với một hoạt động, với một linh vực lao động nhất định trong xã hội.2 Nghiên cứu k¥ năng, kỹ năng giao tiếp tại Việt Nam Tại Việt Nam trong tam lý học đề tài nghiên cứu về ky năng, KNGT khá nhiêu.
Đặc biệt trong những nam gần đây các tác gia bat đầu đi sâu nghiên cứu về KNGT trong một số lĩnh vực, nghề nghiệp cụ thể. Tác gia Nguyên Quang Uan trong “Tam lý học đại cương” 1995, đã quan niệm Tri thức- Kỹ nang- Kỹ xao là điều kiện cần thiết để hình thành năng lực trong một lĩnh vực nào đó. Tác gia Trần Trọng Thuy trong giáo trình “Tam lý học lao động” đã làm rõ khái niệm kỹ năng và điều kiện để hình thành kỹ năng hoạt động lao động. Trong bai viết : “Tinh người, giao tiếp và văn hoá giao tiếp”; 1998 tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa tình người, văn hoá và giao tiếp, tác giả viết: “Văn hoá giao tiếp có liên quan mật thiết với kỹ năng giao tiếp, có một số kỹ năng giao tiếp đặc trưng của con người như kỹ năng chỉnh sửa các ấn tượng ban đầu của mình về người khác khi mới quen với họ, kỹ năng bước vào giao tiếp với người khác một cách không có định kiến.
Những kỹ năng này không có sản, mà phải thông qua học tập và rèn luyện” [28] Tác gia Ngô Cong Hoan, Hoàng Anh đặc biệt di sau nghiên cứu cấu trúc của 3 nhóm kỹ năng giao tiếp sư phạm đó là nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp, nhóm kỹ năng định vị, nhóm kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp. Theo các tác giả các kỹ năng này có mối quan hệ chặt chẽ và chi phối lần nhau [14]. Bên cạnh đó nhiều tác giả cũng đi sâu nghiên cứu KNGT trong hoạt động sư phạm như tác giả Nguyên Hoàng Anh, Nguyễn Như An, Nguyễn Bảo Ngọc. Hoàng Anh trong nghiên cứu: “Kỹ nang giao tiếp sư phạm của sinh viên”, đã nêu ra 03 nhóm kỹ nang giao tiếp sư phạm: - Nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp.
- Nhóm kỹ năng điều khiến bản thân. - Nhóm kỹ năng điều khiển đối phương. § Trong những năm gần đây các công trình nghiên cứu về KNGT khá phong phú, đa dạng. Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu sau: - “Tim hiểu một số kỹ nang giao tiếp sư phạm của sinh viên”, của tác gia Nguyên Thanh Binh; khoa Tâm lý — Giáo Dục, DH SP Hà Nội.
Tác giả kháng định tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp đối với việc nâng cao hiệu qua giờ lên lớp, kích thích tích cực lĩnh hội tri thức và khéu gợi lòng khao khát hiểu biết ở học sinh kỹ năng giao tiếp là một trong những điều kiện dam bảo cho sự thành công của sinh viên trong thực tập sư phạm, đồng thời góp phần hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách của người thầy giáo trong tương lai [34]. Nghiên cứu: “Kỹ năng giao tiếp của cán bộ quản lý sở giao dịch Hà Nội thuộc ngân hàng Công Thương Việt Nam”, 2004 của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai đã đề cập tới các nhóm kỹ năng giao tiếp cơ bản mà mỗi người cần có khi tham gia vào công việc của mình như: Kỹ năng thiết lập mối quan hệ trong giao tiếp, kỹ năng cân bằng nhu cầu trong giao tiếp, kỹ năng nghe đối tượng, kỹ năng tự chủ cảm xúc, hành vi. Nhưng đề tài chỉ giới hạn ở đối tượng ở các vị trí lãnh đạo. Hướng nghiên cứu chú ý nhiều tới tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp trong công tác quản lý, nghiên cứu trên số lượng khá han hẹp về khách thể [38].
- Ngoài ra còn một loạt dé tài khác như: “Thuc trạng kỹ năng giao tiếp của cán bộ chính trị trong hoạt động tuyên truyền ở đơn vị cơ sở quan đội hiện nay”, 2006; của tác giả Nguyễn Hoàng Lân - Học viện Chính trị quân sự; * Xây dung trac nghiệm đánh giá kỹ nang giao tiếp nghiệp vụ trinh sát an ninh” của tác giả Võ Sỹ Lục, Bộ Công An; “Một số kỹ năng giao tiếp trong công tác vận động kế hoạch hoá gia đình cua cộng tác viên dân số”, 2007; của tác giả Nguyên Thị Thu Hiền. Điểm qua mot số dé tài phía trên chúng ta thấy mỗi đề tài khai thác KNGT ở các cạnh khác nhau. Chủ thể của các kỹ năng lại khá đa dạng ở nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực trong cuộc sống. Chính vì sự khác biệt đó sẽ quy định sự hình thành và phát triển 9 KNGT mang tính đặc trưng của hoạt động mà chủ thể giao tiếp da, dang và sẽ tham gia vào.
Với đề tài này chúng tôi đi sâu nghiên cứu mức độ hình thành KNGT trong HĐHT của SV khoa Tâm lý học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niêm giao tiếp Sống trong xã hội, con người không chỉ quan hệ với thế giới sự vật hiện tượng bằng hoạt động có đối tượng mà còn có quan hệ giữa con người với con người và xã hội - đó là quan hệ giao tiếp, Nhưng thực ra thế nào là giao tiếp? Can cứ cách tiếp cận vấn dé mỗi tác gia đưa ra cách hiểu riêng của mình về giao tiếp. Nhưng nhìn chung những quan niệm này đều có những đóng góp nhất định cho việc làm rõ bản chất của giao tiếp. Sau khi tổng hợp các tài liệu đã thu được theo chúng tôi có thể phân chia cách tiếp cận vấn đề giao tiếp của các nhà tâm lý theo những hướng tiếp cận sau: - Hướng tiếp cận thứ nhất: chứ trọng đến sự tác động, sự truyền và tiếp nhận thông tin giữa người với người.
Đại diện cho hướng nghiên cứu này là nhà tâm lý học người Mỹ Osgood C.E, Nhà tam lý học người Anh — M. Argyle, Nhà tam lý học xã hội người Séc, Ia. Theo quan điểm của nhà tâm lý học người Mỹ Osgood C.E thì giao tiếp bao gồm các hành động riêng rẽ mà thực chất là chuyển giao thông tin và tiếp nhận thông tin. Theo ông giao tiếp là một quá trình hai mặt: liên lạc, ảnh hưởng lần nhau tức là tác động qua lại.
Tuy vậy, quan điểm này của ông vẫn còn bị hạn chế vì nó chưa giải thích được thế nào là liên lạc và thế nào là ảnh hưởng lan nhau. Nhà tâm lý học người Anh — M. Argyle lại mô tả quá trình ảnh hưởng lẫn nhau qua các hình thức tiếp xúc khác nhau. Ông coi giao tiếp thông tin mà nó được biểu hiện bằng lời hay không bằng lời từ nhiều người đến một người giống như việc tiếp xúc thân thể của con người trong quá 10 trình tác động qua lại về mặt vật lý và chuyển dịch không gian.
Nhà tâm lý học xã hội người Séc, la.