Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO TĂNG NI SINH VIÊN 1. Tổng quan nghiên cứu về giáo dục kỹ năng mềm cho Tăng ni sinh viên trên thế giới và tại Việt Nam 1. Trên thế giới Các nghiên cứu trên thế giới về GD KNM là khá phong phú và được khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau không chỉ mới giai đoạn gần đây mà thực tế đã được đề cập từ rất lâu, lấy nguồn gốc từ GD phát triển con người toàn diện. Đối với GD KNM cho TNSV, cũng đã có một số công trình đề cập đến.
Trong Giáo trình Triết học, Hồ Sỹ Quý và Phạm Văn Đức khẳng định các nhà triết học, giáo dục học từ thời cổ đại đến cận đại như Scocrates, Arixtot, Coomenxki đã quan tâm đến nhiều vấn đề về giáo dục con người để phát triển một con người toàn diện, không chỉ giáo dục chuyên môn, kiến thức mà còn giáo dục về nhiều lĩnh vực khác nhau như: lao động, sức khỏe, kĩ năng,. Đến giữa thế kỷ XIX, Các Mác và Anghen cho rằng giáo dục con người xã hội chủ nghĩa là giáo dục con người phát triển toàn diện. Quan niệm giáo dục là phát triển nhân cách con người về mọi mặt theo phương thức giáo dục kết hợp với lao động sản xuất (Hồ Sỹ Quý & Phạm Văn Đức, 2005). Từ thế kỷ XX cho đến hiện nay, GD KNM ngày càng được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm nhiều hơn.
Các chuyên gia như Brian Tracy, Tony Robbins, Adam Khoo, Jack Canfield, Les Brown, Janiv Zaid. nhận ra rằng, thực tế kiến thức chuyên môn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu thực tiễn, điều mà người học thiếu chính là sự áp dụng khéo léo và sáng tạo những điều đã học cũng như khả năng thấu hiểu, thiết lập quan hệ với đồng nghiệp, quản lý,. Vì vậy, thuật ngữ KNM xuất hiện và vấn đề nghiên cứu về GD KNM được quan tâm mạnh mẽ. Trên thế giới, đã có nhiều quốc 8 gia đưa kỹ năng mềm thành nội dung giáo dục bắt buộc cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau như học sinh, sinh viên, kỹ sư, bác sĩ, nhân viên y tế, tăng ni sinh viên.
Tại Mỹ, năm 1989, Bộ lao động Mỹ đã thành lập Uỷ ban thư ký về rèn luyện các kỹ năng cần thiết (The secretary's comission on achieving necessary skills – SCANS). Mục đích của Uỷ ban này nhằm thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn lao động kỹ nâng cao và công việc thu nhập cao. Họ khẳng định rằng chỉ trang bị những kỹ năng cần thiết cho người lao động mà đặc biệt là những kỹ năng để họ thích ứng thì mới cải thiện được hiệu quả lao động (UNESCO, 2003). Vào những năm 1990 – 2002, Hội đồng kinh doanh Úc (The business Council of Australia – BCA ) và Phòng thương mại và công nghiệp Úc (The Australian chamber of comerce an industry – ACCI ) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học Úc (The Department of Education, Scien and Training – DEST ) và Hội đồng Giáo dục quốc gia Úc (The Australian National Training Authority – ANTA) đã xuất bản quyển tài liệu “ Kỹ năng hành nghề cho tương lai ”.
Quyển sách đề cập đến những kỹ năng và kiến thức mà người lao động cần phải có trong đó liên quan đến nhiều KNM. Kỹ năng hành nghề (employability skills) là các kỹ năng cần thiết không chỉ để có được việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức khi phát huy tiềm năng của cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức (UNESCO, 2003). Tại Canada, Bộ Phát triển nguồn nhân lực và kỹ năng Canada (Human resources and skills Development Canada – HRSDC) phụ trách về vấn đề phát triển kỹ năng cho người lao động. Bộ này có nhiệm vụ xây dựng nguồn nhân lực dồi dào, có năng lực cạnh tranh giúp người lao động ở đất nước này có năng lực nghề nghiệp thực tiễn trên cơ sở đó nâng cao chất lượng cuộc sống Ngoài ra, cũng có thể đề cập đến một tổ chức có liên quan cũng quan tâm khá nhiều về kỹ năng lao động trong đó có KNM trong nghề nghiệp ở nước này là Conference Board of Canada.
Đây là một tổ chức phi lợi nhuận của Canada chuyên nghiên cứu và phân tích các xu hướng kinh tế, năng lực hoạt động của các tổ chức, các chính sách công có liên quan. Trên cơ sở 9 đó, việc chuẩn bị và hỗ trợ cho người tìm việc mà đặc biệt là KNM lại trở thành nhiệm vụ khá quan trọng. Một trong những thành tựu quan trọng mà tổ chức này đưa ra là danh sách các kỹ năng hành nghề cho thế kỷ XXI như: giao tiếp, giải quyết vấn đề, tư duy tích cực, thích ứng. (UNESCO, 2009) Cũng có thể quan tâm đến hướng nghiên cứu này ở Anh với cơ quan chuyên trách về phát triển kỹ năng cho người lao động.
Với sự định hướng chung thì năm 2009, dựa trên những Bộ, ngành cũ thì vấn đề liên quan đến việc học tập của người lớn, phát triển kỹ năng nghề nghiệp được một tổ chức mới là Bộ Kinh tế – Phát triển chịu trách nhiệm. Trong đó, tổ chức chịu trách nhiệm chương trình và chất lượng cũng đã đưa ra những kỹ năng quan trọng để con người làm việc hiệu quả như: giao tiếp, tự học, giải quyết vấn đề, làm việc chuyên biệt với con người. (UNESCO, 2009) Ngoài ra, còn có thể kể đến những nghiên cứu, những bài viết, những chương trình huấn luyện về KNM của các nhà nghiên cứu, các tổ chức và các trung tâm khác nhau. Trong đó, định nghĩa về KNM, phân loại KNM, vai trò hay tầm quan trọng của KNM trong nghề nghiệp được phân tích chi tiết và hệ thống.
Bên cạnh đó, nội hàm của một số KNM, đặc điểm hay những yêu cầu cần rèn luyện và ứng dụng chúng như thế nào trong nghề nghiệp được đề cập và phân tích khá cụ thể. Bang Michigan của Mỹ đã đề xuất khung kỹ năng mềm của bang được để định hướng ứng dụng cho một số trường Đại học và có những minh chứng cho sự thành công của nó: Lifelong softs skills framwork: Creating a workforce that works (SEMCOG, 2012). Đây là hướng nghiên cứu khả thi bởi việc đảm bảo người lao động trong tương lai hay những sinh viên hiện nay có những kỹ năng mềm cụ thể nhằm đáp ứng yêu cầu công việc cũng như yêu cầu của bối cảnh là điều cần thiết. Đây cũng là thao tác quan trọng để đảm bảo hiệu quả quản lý giáo dục kỹ năng mềm trong tình hình chung.
Các trường học ở Úc đã liệt kê những kĩ năng mềm cần đảm bảo dành cho học sinh và nhiều đối tượng khác. Cụ thể, trong Autralia core skills framework, các tác 10 giả tập trung vào các cấp độ khác nhau của 5 KNM dành cho học sinh: học tập, đọc, viết, giao tiếp bằng lời và kỹ năng toán học. Trên cơ sở này, khung cung cấp các cách tiếp cận, phân loại và các yêu cầu của KNM với từng cá nhân, tổ chức và cộng đồng. Các KNM của người lao động cũng phải đảm bảo các yêu cầu này để hướng đến tính khả thi, đó là định hướng mà nhiều bang của Úc khuyến cáo áp dụng (Yadav & Iqbal, 2009).
Bộ Giáo dục Đại học Malaysia (MoHE) vào năm 2006 đã giới thiệu mô hình triển khai rèn luyện KNM nhằm giúp SV bước vào thế giới việc làm. MoHE đã đề xuất mô hình với các phương pháp tiếp cận cần được thực hiện trong việc đào tạo các KNM với sự tham gia biên soạn của một số nhà khoa học đến từ Viện Giáo dục Đại học Malaysia. MoHE cũng đã tổ chức hội thảo để cung cấp cho giảng viên các trường Đại học ở Malaysia về những thông tin và kiến thức cần thiết để sử dụng mô hình này. Sản phẩm cụ thể của Bộ Giáo dục Đại học Malaixia giới thiệu đó là Framework of soft skills infusion based on learning contract concept in malaysia higher education đề cập cụ thể đến mục đích của việc giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên, chia sẻ các vấn đề có liên quan đến phương pháp phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên ở các trường Đại học (Othman & Mohamad, 2014) Nghiên cứu về kỹ năng mềm thế hệ Z, Bruce Tulgan (2019) cho rằng, giới trẻ ngày nay được trang bị nhiều phương pháp, kỹ thuật mới, luôn tạo ra những ý tưởng mới, quan điểm mới, mang lại nguồn năng lượng mới cho bản thân và công việc nhưng lại yếu kém KNM.
Ông đã đưa ra các KNM thiết yếu cho giới trẻ, gồm: - Nhóm KNM chuyên nghiệp: kỹ năng đánh giá bản thân, trách nhiệm cá nhân, thái độ tích cực, thói quen làm việc tốt và kỹ năng xã hội. - Nhóm KNM tư duy lý luận: kỹ năng chủ động học hỏi, giải quyết vấn đề, ra quyết định. - Nhóm KNM tinh thần phục vụ: kỹ năng tôn trọng bối cảnh, tinh thần tập thể, tinh thần phục vụ, tinh thần đồng đội. 11 Ở mỗi KNM, Bruce Tulgan đưa ra các giải pháp cụ thể cho việc thiếu hổng KNM của các bạn trẻ, qua những kế hoạch, bài học được thiết kế linh hoạt và dễ sử dụng.
Riêng về KNM cho TNSV, một số nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đã đề cập đến vấn đề này. Tạng Nikaya thuộc bộ Đại tạng Kinh Việt Nam đã nêu lên những phẩm chất cần có của Tăng Ni khi là một nhà Hoằng pháp, xây dựng một hình mẫu con người lý tưởng, con người Hoằng pháp vì lợi ích của cộng đồng. Trong bài Kinh Thiện pháp, Đức Phật chỉ ra các kỹ năng mà mỗi nhà Hoằng pháp cần trang bị cho mình, đó là biết pháp, biết nghĩa, biết thời, biết tiết độ, biết mình, biết chúng hội và biết sự hơn kém của người (Thích Minh Châu, 1996). Nghiên cứu về GD Phật giáo và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Jeongwan Sumi đề cập đến bốn trí tuệ mà Tăng Ni cần phải có trong sự phát triển của khoa học và công nghệ, gồm: - Trí tuệ thông minh theo tình huống, bối cảnh là khả năng dự đoán những thay đổi theo xu hướng để giải quyết các vấn đề xã hội, cơ cấu, đạo đức mà Tăng Ni gặp phải trong kỷ nguyên của cuộc cách mạng lần thứ tư.
Để phát triển trí thông minh này, Tăng Ni cần phải không ngừng tương tác, hợp tác và kết nối với các tổ chức xã hội một cách đa dạng hơn. - Trí tuệ cảm xúc giúp con người sáng tạo và phục hồi nhanh hơn, trí tuệ cảm xúc như chức năng của trí tuệ và việc tận dụng nó như là cốt lõi của Phật giáo. - Trí tuệ sáng tạo là khả năng liên tục khám phá những ý nghĩa và mục đích.