CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh tiểu học 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, nhiều tổ chức quốc tế như Tổ chức y tế thế giới (WHO), Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO), Quỹ cứu trợ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) đã có sự đầu tư về kĩ năng sống trong lĩnh vực giáo dục, đưa ra nhiều chương trình giáo dục kĩ năng sống cụ thể với các đối tượng khác nhau nhằm trang bị cho người học những kĩ năng cơ bản, cần thiết để ứng phó thích hợp với những vấn đề xảy ra trong cuộc sống hằng ngày. Năm 1989, Bộ lao động Mỹ đã thành lập Ủy ban thư ký về rèn luyện các kĩ năng cần thiết (The secretary’s comission on achieving necessary skill – SCANS).
Thành viên của Ủy ban này đến từ những lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau: giáo dục, kinh doanh, công chức. Mục đích của ủy ban này nhằm thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn lao động kĩ năng cao và công việc thu nhập cao. Họ khẳng định rằng chỉ trang bị những kĩ năng cần thiết cho người lao động mà đặc biệt là những kĩ năng để họ thích ứng thì mới cải thiện được hiệu quả lao động. (UNESCO 2003) Ở các nước Bắc Âu: Theo cuốn sách Bài học Phần Lan (Finish Lession 2.0) Nhà xuất bản thế giới xuất bản năm 2016 do Đặng Việt Vinh dịch (2016) đề cập đến tầm quan trọng của giáo giáo dục mầm non, làm nền tảng cho giáo dục tiểu học và các bậc học cao hơn.
Diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người họp tại Senegan (2000) Chương trình hành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó mục tiêu 3 nói rằng: “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kĩ năng sống phù hợp”, trong đó “người học” ở đây được hiểu từ trẻ em đến người lớn tuổi, còn 8 Luan van “phù hợp” được hiểu là phù hợp với từng vùng miền, từng lứa tuổi. Bên cạnh đó, mục tiêu 6 còn yêu cầu khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá kĩ năng sống của người học. (Nguyễn Thanh Bình, 2009, tr. 27-28) Một số nước trong khu vực Đông Nam Á cũng rất quan tâm và đưa vào chương trình giáo dục những vấn đề về kĩ năng sống nhằm trang bị cho người học những kĩ năng cần thiết để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, cụ thể: Ở các nước: Malaysia, Bangladesh, Campuchia thì giáo dục KNS được thực hiện trong chương trình giáo dục chính quy.
Trong đó, KNS tại Malaysia được dạy như là một môn học ở trường tiểu học từ lớp 4, 5, 6, ở THCS từ lớp 7, 8, 9 và còn đan xen vào các môn học khác. Mục tiêu của môn học này ở trường tiểu học là cung cấp cho học sinh những kĩ năng thực tế cơ bản để họ có thể thực hiện các nhiệm vụ và có xu hướng kinh doanh. Ở Bangladesh, giáo dục KNS có nội dung phụ thuộc vào từng nhóm đối tượng, luôn thay đổi theo thời gian và có các mức độ, cấp độ khác nhau, tập trung vào các lĩnh vực cơ bản như: Các kĩ năng xã hội bao gồm: kĩ năng tồn tại; kĩ năng kinh tế; kĩ năng ngôn ngữ, xóa mù chữ. Các kĩ năng phát triển (advanced) bao gồm: tư duy phê phán; tham gia; quan hệ liên nhân cách; thương lượng.
Các kĩ năng chuẩn bị cho tương lai bao gồm: sử dụng công nghệ thông tin; quản lí stress, giải quyết xung đột. Còn ở Campuchia, giáo dục KNS được thực hiện theo 3 cách: Đối với các kĩ năng sống chung thì được tích hợp vào các bài học của các môn cơ bản từ lớp 1 đến lớp 12. Các kĩ năng tiền nghề nghiệp từ lớp 6 đến lớp 12 được tổ chức dạy và thực hành trong các tiểu ban công nghệ. Các kĩ năng nghề đơn giản là gieo trồng, chăn nuôi gia súc,… được lựa chọn dựa trên khả năng của nhà trường.
(Nguyễn Thanh Bình, 2009) Ở Lào, giáo dục KNS còn được mở rộng trong chương trình giáo dục không chính quy và các trường sư phạm đào tạo giáo viên. Những KNS cơ bản mà người học được giáo dục bao gồm: kĩ năng giao tiếp có hiệu quả; kĩ năng giải quyết vấn đề; kĩ năng tư duy sáng tạo, phê phán; kĩ năng ra quyết định; kĩ năng tự nhận thức, đặt mục tiêu; sự thiện cảm; kĩ năng đương đầu với cảm xúc, stress và kĩ năng xác định giá trị. (Nguyễn Thanh Bình, 2009) 9 Luan van Ngoài ra, một số nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương cũng giáo dục KNS cho người học trong chương trình giáo dục không chính quy. Kết quả nghiên cứu trên 15 quốc gia cho thấy rằng việc giáo dục KNS của các nước có nhiều điểm chung, nhưng cũng có nhiều nét riêng.
(Nguyễn Thanh Bình, 2009) Tóm lại: Mặc dù cùng xuất phát từ quan niệm chung về KNS của tổ chức y tế thế giới hoặc của UNESCO, nhưng quan niệm và nội dung giáo dục kĩ năng sống ở các nước không giống nhau. Nó vừa thể hiện nét chung và cả tính đặc thù, những nét riêng của từng quốc gia. Nhìn chung, các quốc gia cũng mới bước đầu triển khai giáo dục KNS nên chưa thật toàn diện và sâu sắc, vì chưa có quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng kĩ năng sống. Những nghiên cứu ở trong nước Trước những năm 1990, việc đối nhân xử thế giữa người với người được coi như một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục.
Sinh viên, HS Việt Nam được trang bị những kĩ năng nhất định để sống và làm việc. Điều này cho thấy không phải việc nghiên cứu KNS mới chỉ xuất hiện trong thời gian gần đây mà có từ rất lâu. Tuy nhiên, những nghiên cứu ấy chưa được gọi chính thức như một nghiên cứu về KNS. (Nguyễn Thanh Bình, 2009) Tại Việt Nam đầu những năm 90, Thủ tướng chính phủ cũng đã ban hành Quyết định 1363/TTg về việc “Đưa nội dung giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”, tuy quyết định này chưa thấy rõ về việc phải rèn luyện KNS ở các bậc học, nhưng nội dung của quyết định này đã đề cập đến việc trang bị cho người học những vấn đề về văn hóa ứng xử, thái độ sống.
Tiếp đến là Chỉ thị 10/GD&ĐT năm 1995 hay Chỉ thị 24/CT&GD năm 1996 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những chỉ đạo về công tác phòng chống ma túy tại trường học. Đây cũng là hướng đề cập đến những kĩ năng cần có của HS như: kĩ năng từ chối, kĩ năng ứng xử với người nhiễm HIV/AIDS. Thuật ngữ KNS được biết đến từ chương trình của UNICEF (1996), “giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và 10 Luan van ngoài nhà trường”. Quan niệm về KNS được giới thiệu trong chương trình này bao gồm những kĩ năng cốt lõi: tự nhận thức, giao tiếp, xác định giá trị, kiên định, đặt mục tiêu, … Cuối cùng, khái niệm KNS thực sự được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng từ sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kĩ năng sống” do UNESCO tài trợ vào tháng 10 năm 2003.
Từ đây, ngành giáo dục đã bắt đầu quan tâm đến KNS và cách thức giáo dục KNS cho HS. (Nguyễn Thanh Bình, 2009) Trong những năm đầu của thế kỉ XXI, một số bộ Luật của Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi cũng đã có những định hướng và điều khoản liên quan đến việc trang bị KNS cho HS như: Luật chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Luật giáo dục năm 2019. Thử nghiệm một số chủ đề giáo dục KNS cho HS trung học phổ thông, tác giả Nguyễn Thanh Bình (2008) đã thiết kế và thử nghiệm theo 5 chủ đề để xác định giá trị, giao tiếp, đương đầu với căng thẳng, giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực và lựa chọn nghề. Kết quả thử nghiệm khẳng định tính bổ ích, phù hợp của các chủ đề đã thiết kế, đồng thời cho thấy sự thay đổi rõ về kiến thức, thái độ và định hướng hành vi của những HS tham gia thử nghiệm.
Trong đề tài nghiên cứu khoa học về “Biểu hiện rối nhiễu tâm lý ở tuổi sinh viên” của tác giả Lê Thị Hoa (2009), kết quả khảo sát trên 802 sinh viên của 5 trường đại học, cao đẳng tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy rằng sinh viên có những biểu hiện rối nhiễu như: khó tập trung, đầu óc trống rỗng, không thể yên tâm nghỉ ngơi hay thư giãn vì luôn cảm thấy phải làm một điều gì đó, dễ bị mệt, dễ bị xúc động, … Một trong những nguyên nhân chủ quan là do thiếu một số KNS như: kĩ năng đặt mục tiêu, kĩ năng kiềm chế căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, … Qua đó, tác giả đã nhận định rằng giáo dục KNS cho sinh viên là một việc làm cấp bách trong các trường đại học, cao đẳng hiện nay. Đối với bậc tiểu học, việc dạy KNS được lồng ghép vào các môn học có tiềm năng như: Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội (đối với lớp 1, 2, 3), môn Khoa học (đối với lớp 4, 5). Trong đó, các KNS được giáo dục qua môn Đạo đức bao gồm: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng kiên định, kĩ năng đặt 11 Luan van mục tiêu. Còn đối với môn Tự nhiên và Xã hội, Khoa học thì KNS được giáo dục cho HS chủ yếu qua chủ đề “con người và sức khỏe”.
(Nguyễn Thanh Bình, 2009) Phân tích tầm quan trọng của KNS trong việc hình thành và phát triển nhân cách HS tiểu học, tác giả Lục Thị Nga (2009) nhận định rằng: nhân cách được hình thành qua hai con đường cơ bản trong nhà trường, đó là con đường dạy học và con đường giáo dục ngoài giờ lên lớp. Vì thế, trên cơ sở làm rõ những vấn đề cơ bản về giáo dục KNS cho HS tiểu học, tác giả đã chỉ ra những phương pháp tích hợp dạy KNS cho HS tiểu học qua môn Khoa học, đồng thời cũng đưa ra phương pháp tích hợp dạy KNS qua hoạt động ngoài giờ lên lớp. Tác giả đã làm rõ ý nghĩa thực tiễn, những yếu tố cần thiết của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cũng như những biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục KNS cho HS tiểu học.