CHƯƠNG 1 CƠ SỚ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Vai trò của bài tập toán trong quá trình dạy học Ở trường phổ thông, dạy toán là dạy hoạt động toán học. Đối với học sinh có thể xem hoạt động giải toán là hình thức chủ yếu của hoạt động toán học. Thông qua giải bài tập, học sinh thực hiện những hoạt động nhất định bao gồm cả nhận dạng và thể hiện quy tắc, phương pháp những hoạt động phức hợp, những hoạt động trí tuệ phổ biến trong toán học và hoạt động ngôn ngữ. Vai trò của bài tập toán được thể hiện trên ba bình diện sau: Trên bình diện mục tiêu dạy học, bài tập toán học ở phổ thông có những chức năng sau: Với chức năng dạy học: Bài tập nhằm củng cố tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo ở những khâu khác nhau của quá trình dạy học, kể cả kĩ năng ứng dụng vào thực tế.
Với chức năng phát triển: Bài tập nhằm phát triển năng lực trí tuệ, rèn luyện những hoạt động tư duy của học sinh. Với chức năng giáo dục: Bài tập nhằm hình thành, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của người lao động mới cho học sinh. Với chức năng kiểm tra: Bài tập nhằm đánh giá mức độ, kết quả dạy và học của giáo viên và học sinh. Ý nghĩa của việc dạy giải bài tập toán học Trong quá trình dạy giải bài tập, việc đào sâu mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú là yếu tố rất cần thiết.
Chỉ có vận dụng kiến thức đã học vào giải bài tập thì học sinh mới có thể nắm kiến thức một cách sâu sắc. Việc dạy giải bài tập toán là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức tốt nhất. Đòi hỏi học sinh phải tư duy và tập trung trí óc vào việc nhớ lại hệ thống kiến thức đã học. 6 Việc dạy giải bài tập toán còn có vai trò quan trọng trong việc phát triển nhận thức, rèn luyện trí thông minh cho học sinh.
Một số bài toán có tính chất đặc biệt, ngoài cách giải thông thường còn có những cách giải khác. Dạy giải bài tập toán tạo điều kiện cho giáo viên có cơ hội để kiểm tra, đánh giá kiến thức học sinh một cách chính xác. Việc dạy giải bài tập toán còn mang ý nghĩa giáo dục đạo đức, tác phong như: Rèn luyện tính kiên nhẫn, cẩn thận, chính xác, sáng tạo… 1. Một số vấn đề về dạy học rèn luyện kĩ năng giải toán 1.
Khái niệm về kĩ năng giải toán Kĩ năng là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa, tìm hiểu. Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm cho rằng kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp,…) để giải quyết một nhiệm vụ mới. Theo tâm lí học đại cương, kĩ năng được hiểu là “năng lực sử dụng các dữ liệu, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định”. Trong từ điển Tâm lí học do Phan Dũng chủ biên kĩ năng được định nghĩa là “năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [10].
Theo Vũ Quốc Chung: “Kĩ năng là khả năng vận dụng tri thức khoa học vào thực tiễn, trong đó khả năng được hiểu là: sức đã có (về một mặt nào đó) để thực hiện một việc gì” [7]. Theo Polia G: “Trong toán học kĩ năng là khả năng giải các bài toán, thực hiện các chứng minh cũng như phân tích có phê phán các lời giải và chứng minh nhận được” [18]. Như vậy có thể hiểu: kỹ năng là năng lực thực hiện một hành động của con người dựa trên những tri thức về phương thức hành động và kinh nghiệm cũng như năng lực bản thân để đạt được mục đích trong những điều kiện, tình 7 huống hành động nhất định. Kĩ năng giải toán: Có rất nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về kĩ năng giải toán.
Có thể hiểu: Kĩ năng giải toán là khả năng vận dụng các tri thức toán học để giải các bài tập toán (bằng suy luận, chứng minh). Kĩ năng giải toán là khả năng vận dụng có mục đích những tri thức và kinh nghiệm đã có vào giải những bài toán cụ thể, thực hiện có kết quả một hệ thống hành động giải toán để đi đến lời giải bài toán một cách khoa học [10]. Kĩ năng Toán học được hình thành và phát triển thông qua việc thực hiện các hoạt động toán học và các hoạt động học tập trong môn Toán.2 Mục tiêu dạy học môn toán Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, môn Toán cấp tiểu học nhằm giúp học sinh đạt các mục tiêu chủ yếu sau: Thứ nhất: Hình thành phát triển năng lực toán học : Thực hiện các thao tác tư duy, lập luận, nêu giải quyết được các vấn đề đơn giản. Thứ hai: Có những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản ban đầu, thiết yếu về: Số và phép tính: Số tự nhiên, phân số, số thập phân và các phép tính trên những tập hợp số đó.
Hình học và Đo lường: Quan sát, nhận biết, mô tả hình dạng và đặc điểm (ở mức độ trực quan) của một số hình phẳng và hình khối trong thực tiễn; tạo lập một số mô hình hình học đơn giản; tính toán một số đại lượng hình học; phát triển trí tưởng tượng không gian; giải quyết một số vấn đề thực tiễn đơn giản gắn với Hình học và Đo lường (với các đại lượng đo thông dụng). Thống kê và Xác suất: Một số yếu tố thống kê và xác suất đơn giản; giải quyết một số vấn đề thực tiễn đơn giản gắn với một số yếu tố thống kê và xác suất. Thứ ba: Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác như: Đạo đức, Tự nhiên và xã hội, Hoạt động trải nghiệm,… góp phần giúp học sinh có những hiểu biết ban đầu về một số nghề nghiệp trong xã hội Đối với nội dung có yếu tố hình học ở lớp 5 theo chương trình hiện hành, 8 yêu cầu học sinh phải đạt được chuẩn kiến thức, kỹ năng sau: a, Về kiến thức - Hình tam giác: Biết đặc điểm chung của hình tam giác có: 3 cạnh, 3 đỉnh, 3 góc. Phân biệt ba dạng hình tam giác.
Biết công thức tính diện tích hình tam giác. - Hình thang: Có biểu tượng về hình thang. Nhận biết các yếu tố của hình thang, nhận dạng được hình thang với các hình. Nhận biết hình thang vuông.
Biết công thức tính diện tích hình thang. - Hình tròn, đường tròn, nhận biết được các yếu tố của hình tròn, đường tròn. Biết sử dụng compa để vẽ hình tròn, biết quy tắc tính chu vi, diện tích hình tròn. - Hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình trụ, hình cầu: có biểu tượng về hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình trụ và hình cầu.
- Thể tích của một hình: Có biểu tượng về thể tích của một hình, biết công thức tính thể tích hình hộp chữ nhật, hình lập phương. b, Về kỹ năng + Tính diện tích hình tam giác, diện tích hình thang, diện tích hình tròn. + Tính thể tích, diện tích xung quanh, diện tích toàn phần của hình lập phương 1. Nội dung yếu tố hình học trong chương trình Toán lớp 5 Chương trình hình học toán 5 được dạy trong 35 tuần gồm có 175 tiết học.
Trong đó các bài toán có yếu tố hình học chiếm 29 tiết học và tập trung trong một chương. Hình học lớp 5 được xây dựng dựa trên các yếu tố hình học của toán lớp 4. a) Nội dung các yếu tố hình học gồm: - Hình tam giác. Hình tròn - Tính diện tích hình tam giác.
Tính diện tích hình thang. Tính chu vi, diện tích hình tròn. - Hình hộp chữ nhật. Hình lập phương.
- Tính diện tích xung quanh, tính diện tích toàn phần. 9 b) Mức độ yêu cầu: Các yếu tố hình học ở lớp 1, 2, 3, 4 được rải ra và sắp xếp xen kẽ với các kiến thức số học, yếu tố đại số, đo đại lượng và giải toán nhằm tạo ra mối liên hệ hữu cơ và sự hỗ trợ chặt chẽ giữa các tuyến kiến thức với nhau. Song ở lớp 5 là lớp duy nhất các yếu tố hình học được dạy tập trung trong một chương, số tiết dạy nhiều hơn, kiến thức kĩ năng đòi hỏi cao hơn so với các lớp dưới. Đặc điểm nhận thức - tư duy của học sinh lớp 5 1.
Đặc điểm nhận thức Nhận thức cảm tính - Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện. - Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm. Nhận thức lý tính Tư duy: Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động. Tưởng tượng: Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng tích lũy nhiều.
Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức: Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Trí nhớ: Giai đoạn lớp 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường. Ghi nhớ có chủ định đã phát triển. Ý chí: Đến cuối tuổi tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em.
Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời. Đặc điểm nhân cách 10 Đây là giai đoạn học sinh bắt đầu tham gia vào hoạt động mang tính xã hội hóa mạnh mẽ để tiếp nhận hệ thống tri thức khoa học của loài người dưới ảnh hưởng của hoạt động học tập, nhân cách của học sinh có nhiều biến đổi phong phú và sâu sắc. Đầu tiên ta nói về sự phát triển của các quá trình nhận thức: ở lứa tuổi này diễn ra một sự phát triển toàn diện về các quá trình nhận thức như sau: - Tri giác của các em đã phát triển hơn hẳn. - Trí nhớ của các em đang phát triển mạnh.
- Tưởng tượng của các em phát triển mạnh hơn và phong phú hơn. - Tư duy của các em phát triển rất nhanh.