CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TRONG SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Trách nhiệm Trách nhiệm là một vấn đề mang tính xã hội, thể hiện sự trưởng thành của mỗi cá nhân trong quá trình hoàn thiện nhân cách. Đối với mỗi cá nhân, trách nhiệm là một điều thiết yếu cần phải có trong mỗi con người.
Một mặt nó được coi là một gánh nặng nhưng đồng thời là nhân tố thúc đẩy mỗi người không ngừng hoàn thiện nhân cách. Trong thực tế, người sống có trách nhiệm sẽ luôn được người khác tôn trọng và cũng dễ dàng đạt được thành công hơn. Người sống có trách nhiệm sẽ luôn chủ động trong mọi công việc, luôn tự tin phát triển bản thân, dám làm những điều mình muốn và sẵn sàng đứng ra chịu trách nhiệm về những việc mình làm, không bao giờ đổ lỗi hay đùn đẩy trách nhiệm cho người khác. Chính vì thế mà những người này luôn được mọi người yêu quý.
Cho đến nay, nhiều học giả trên thế giới và Việt Nam đã đưa ra nhiều khái niệm, định nghĩa rất đa dạng về “trách nhiệm”. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về thuật ngữ này. Trong tiếng Anh, có hai thuật ngữ cùng được hiểu là “trách nhiệm”: “responsibility” và “accountability”. Hai thuật ngữ này thường được dùng thay thế cho nhau, nhưng có một sự khác biệt cơ bản giữa hai thuật ngữ này.
Trách nhiệm với nghĩa là “responsibility” thường được hiểu là việc phải làm, như là bổn phận, nghĩa vụ. Còn“accountability”có nghĩa rộng hơn “responsibility”, ngoài nghĩa là những việc phải làm, mà còn bao gồm việc đứng ra nhận và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện những việc đó. Accountability có thể được hiểu là tổng hợp của Trách nhiệm (responsibility), Khả năng biện minh (answerability) và Nghĩa vụ pháp lý (liability). “Trách nhiệm” theo nghĩa là accountability thể hiện khả năng của một cá nhân/tổ chức thừa nhận về những gì mình đã làm khi thực hiện một việc nào đó; đồng thời, nó bao hàm nghĩa vụ giải thích, báo cáo, thông tin, biện giải về những việc đó và những hệ quả, cũng như 8 Luan van việc sẵn sàng chịu sự đánh giá, phán xét, thậm chí là trừng phạt cả về mặt pháp lý và đạo đức đối với những hệ quả đó.
Theo một số tài liệu nước ngoài, tiếp cận từ phương diện tâm lý học, khi nghiên cứu về trách nhiệm thường nhấn mạnh tầm quan trọng của lòng tốt đối với người khác và tâm trạng vui mừng khi giúp đỡ được người khác. Chẳng hạn, theo Gallay (2006), trách nhiệm là sự quan tâm của cá nhân, vượt ra khỏi bản thân mình. [20] Theo Từ điển tiếng Việt của Ban biên soạn chuyên từ điển: New Era (2014), trách nhiệm là “phần việc, công việc mà mình phải làm và phải chịu kết quả tốt xấu”.975] Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2001),trách nhiệm là “sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm làm đúng đắn, nếu sai trái thì phải chịu phần hậu quả”.873] Theo Từ điển Triết học (1986), trách nhiệm là “phạm trù đạo đức và luật học phản ánh thái độ đạo đức, phát luật của cá nhân đối với xã hội (đối với nhân loại nói chung)”.782] Điểm qua các khái niệm trên có thể thấy, dù cách hiểu về “trách nhiệm” là khá đa dạng, phong phú song hầu hết đều tập trung phản ánh những nội hàm như: yêu cầu, đòi hỏi về mặt đạo đức và pháp lý, nghĩa vụ phải gánh vác, thực hiện; do xã hội quy định; thể hiện qua sự tương tác với người khác… Từ góc độ của đề tài, chúng tôi đồng tình với cách hiểu về “trách nhiệm” của tác giả Nguyễn Tuấn Anh trong cuốn “Ý thức trách nhiệm xã hội của thanh niên”: “Trách nhiệm là sự cam kết thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật và xã hội quy định cho mỗi cá nhân nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của chính bản thân cá nhân đó và những người khác trong xã hội”.23] Theo định nghĩa trên, nội hàm của khái niệm trách nhiệm được làm rõ qua các nội dung cơ bản sau: - Là việc mà mỗi người phải làm và phải có ý thức với những việc làm đó; 9 Luan van - Trách nhiệm thường xuất hiện song hành với quyền. Nếu quyền là những gì mình được hưởng, được yêu cầu người khác phải thực hiện thì trách nhiệm là những gì mà họ buộc phải làm và chịu sự giám sát của người khác; - Khi xem xét và thực hiện trách nhiệm của cá nhân thì bao giờ cũng phải dựa trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật hiện hành; - Lợi ích được đặt ra ở đây là đảm bảo lợi ích của cá nhân có trách nhiệm đồng thời đảm bảo lợi ích của người khác, của cộng đồng và xã hội.
Điều đó hoàn toàn trái ngược với việc đảm bảo lợi ích của người này thì lại xâm phạm hoặc làm tổn hại đến lợi ích của người khác hay lợi ích của cộng đồng, xã hội. Ngoài ra, khi nghiên cứu về trách nhiệm, có nhiều cách phân loại trách nhiệm. Có thể chia trách nhiệm thành trách nhiệm với bản thân, trách nhiệm với gia đình, trách nhiệm với đất nước, trách nhiệm với nhân loại. Hoặc chia trách nhiệm thành trách nhiệm cá nhân và TNXH.
Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đi sâu nghiên cứu TNXH trong mối quan hệ chặt chẽ với trách nhiệm cá nhân. Trách nhiệm xã hội Trong xã hội hiện đại, “Trách nhiệm xã hội” là một khái niệm không mới song vấn đề này lại luôn mang tính thời sự. Theo Borndani (2012), TNXH là trách nhiệm của cá nhân đối với xã hội mà cá nhân sống trong đó. [19] Theo Polk (1999), TNXH là một kĩ năng xã hội giúp thanh niên xác định bản thân và vai trò của họ như là một phần của thành viên cộng đồng.
Đồng thời, TNXH còn là năng lực cho phép con người sống năng động và có trách nhiệm trong cộng đồng. [22] Theo chúng tôi, TNXH được hiểu trong mối quan hệ với trách nhiệm cá nhân. Trong đó, trách nhiệm cá nhân bao gồm 3 yếu tố: (1) Nhận thức và kiểm soát suy nghĩ và cảm xúc cá nhân; (2) Nhận thức và kiểm soát các lựa chọn liên quan đến hành vi cá nhân; (3) Sẵn sàng chịu trách nhiệm với hành vi của bản thân và kết quả thu được. TNXH là nhận thức và sự quan tâm đến tác động của hành vi của mình đối với người khác và xã hội.
10 Luan van Từ sự luận giải khái niệm trách nhiệm và TNXH đặt trong mối quan hệ với trách nhiệm cá nhân, chúng tôi lựa chọn cách hiểu của Nguyễn Tuấn Anh trong cuốn “Ý thức trách nhiệm xã hội của thanh niên”:“Trách nhiệm xã hội là sự quan tâm của cá nhân đến phúc lợi của người khác và của xã hội trên cơ sở hành động tuân theo các chuẩn mực đạo đức, xã hội và luật pháp đã quy định”. Trách nhiệm xã hội của sinh viên Theo Khoản 2, Điều 2, Quy chế công tác sinh viên đối với chương trình đại học hệ chính quy (Ban hành kèm theo Thông tư số 10/2016/TT-BGDĐT ngày 05 tháng 4 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo): SV là “là người đang học chương trình đào tạo trình độ đại học hệ chính quy tại các cơ sở giáo dục đại học”. [4] Theo nhiều tài liệu đều thống nhất cho rằng: SV là những người trưởng thành về thể chất, xã hội và tâm lý, đó là những người ở độ tuổi từ 18 đến 25 tuổi và đang theo học tại các trường Cao đẳng, Đại học. SV trước hết mang đầy đủ những đặc điểm chung của con người, mà theo Mác là “tổng hoà của các quan hệ xã hội”.
Nhưng họ còn mang những đặc điểm riêng: Tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 đến 25 nên định hướng nghề nghiệp và tính cách dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách, ưa các hoạt động giao tiếp; đang học tập để có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp nhất định mà hiện nay gọi là chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo. SV vì thế dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo. Đây cũng là tầng lớp xưa nay vẫn khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị - xã hội, đôi khi cực đoan nếu không được định hướng tốt. Về môi trường sống, SV thường theo học tập trung tại các trường Đại học và Cao đẳng (thường ở các đô thị), sinh hoạt trong một cộng đồng (trường, lớp) gồm chủ yếu là những thành viên tương đối đồng nhất về tri thức, lứa tuổi, với những quan hệ có tính chất bạn bè khá gần gũi.
Từ khái niệm TNXH và đặc thù của đổi tượng SV, có thể hiểu TNXH của SV là: Sự chủ động, tự nguyện quan tâm đến phúc lợi của người khác và xã hội 11 Luan van của những người tuổi từ 18 đến 25 đang học tập tại các cơ sở giáo dục đại học; là những hành động tuân theo các chuẩn mực đạo đức xã hội và pháp luật, được biểu hiện tích cực trên ba mặt nhận thức, thái độ và hành vi. Đây cũng chính là khái niệm công cụ được sử dụng trong các phân tích của đề tài. Như vậy, nếu hiểu theo ý nghĩa này, TNXH của SV sẽ được xem xét trên các khía cạnh: (1) Nhận thức của SV về TNXH (2) Thái độ TNXH của SV (3) Hành vi TNXH của SV Ngoài ra, khi nghiên cứu TNXH của SV (nhận thức, thái độ, hành vi TNXH) sẽ được tiến hành khảo cứu trên ba hoạt động chính: học tập, giao lưu và giải trí trong cuộc sống và học tập của SV tại nơi ở, giảng đường và môi trường hoạt động cộng đồng của SV. Mạng xã hội và sử dụng mạng xã hội Những năm gần đây, MXH đã có bước phát triển mạnh mẽ, tác động lớn đến đời sống xã hội ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
MXH đã trở thành một thuật ngữ phổ biến với những tính năng đa dạng cho phép người dùng kết nối, chia sẻ, tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng, hiệu quả. Theo tổng hợp trên Wikipedia, MXH với cách gọi đầy đủ là "dịch vụ mạng xã hội" (tiếng Anh là "social network service") hay "trang mạng xã hội", là nền tảng trực tuyến nơi mọi người dùng để xây dựng các mối quan hệ với người khác có chung tính cách, nghề nghiệp, công việc, trình độ,. hay có mối quan hệ ngoài đời thực. Tác giả Hoàng Thị Hải Yến cho rằng MXH là đại diện tiêu biểu của Web 2.0 mô phỏng các quan hệ xã hội thực.