Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRÊN FACEBOOK CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN NINH NHÂN DÂN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Cùng với hoạt động, giao tiếp là một trong những phương thức tồn tại và phát triển của con người. Năng lực giao tiếp tốt giúp cá nhân thiết lập và vận hành tốt các mối quan hệ xã hội, từ đó đạt được những thành công nhất định trong cuộc sống. Do vậy, kỹ năng giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp trên FB – một mạng xã hội giúp kết nối mọi người nhanh chóng và dễ dàng, là vấn đề luôn được quan tâm nghiên cứu.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước như sau: 1. Những công trình nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp 1. Ở nước ngoài Khái niệm về giao tiếp đã xuất hiện từ rất sớm, trong những quan điểm của các nhà Triết học thời cổ đại như Socrate, Platon. Trong đó, giao tiếp là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người (Nguyễn Văn Đồng, 2009).
Trong xã hội hiện đại, khái niệm giao tiếp là một phạm trù được các nhà Tâm lý học nghiên cứu một cách khoa học, hệ thống. Nhà phân tâm học S.Freud đã chỉ ra rằng giao tiếp có mối liên hệ với giấc mơ. Trong đó, cơ chế đồng nhất hóa đóng vai trò quan trọng. Cơ chế này đảm bảo mối liên hệ qua lại giữa các chủ thể trong nhóm xã hội, tạo ra sự đồng nhất cảm xúc, thấu cảm, tiếp thu tình cảm của người khác (Hoàng Thị Phương, 2003).
Các nhà tâm lý học Gestalt phân tích giao tiếp thành các yếu tố và đặt chúng trong hệ thống với các quan hệ xã hội. Có thể kể đến nghiên cứu của nhà tâm lý học Pháp Bateson. Theo ông, mọi giao đều biểu hiện ra ở một trong hai hệ thống là đối xứng và bổ sung. Tính hệ thống được thể hiện khi 7 con người thiết lập được sự bình đẳng, sự tương hỗ, còn tính bổ sung khi thể hiện sự khác nhau thông qua giao tiếp (Hoàng Thị Phương, 2003).
Ngành Tâm lý học của Liên Xô (cũ) với các nhà tâm lý học như .Lomov đã nghiên cứu vấn đề giao tiếp theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Các hướng nghiên cứu này được tác giả Huỳnh Văn Sơn tóm tắt trong cuốn “Giáo trình tâm lí học giao tiếp” như sau (Huỳnh Văn Sơn, 2011). Hướng thứ 1: Nghiên cứu lý luận chung về giao tiếp như bản chất, cấu trúc, cơ chế giao tiếp, phương pháp luận nghiên cứu giao tiếp, mối quan hệ giữa giao tiếp và hoạt động. Hướng nghiên cứu này thể hiện hai luồng quan điểm: luồng quan điểm thứ nhất cho rằng giao tiếp có thể là một dạng hoạt động hoặc có thể là một phương thức, điều kiện của hoạt động; luồng quan điểm thứ hai nhấn mạnh hoạt động và giao tiếp là hai phạm trù tương đối độc lập trong quá trình thống nhất của đời sống con người, nếu phạm trù “hoạt động” phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể thì phạm trù “giao tiếp” phản ánh mối quan hệ chủ thể và chủ thể.
Hướng thứ 2: Nghiên cứu các dạng giao tiếp nghề nghiệp. Trong đó, giao tiếp sư phạm giữa giáo viên và học sinh là một loại giao tiếp nghề nghiệp được nhiều nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu. Đối với hệ thống lý luận về kỹ năng giao tiếp, một số nhà Tâm lý học trên thế giới cũng đã tập trung nghiên cứu như A.Leonchiev đã nghiên cứu và liệt kê một số kỹ năng giao tiếp sư phạm như kỹ năng điều khiển hành vi bản thân, kỹ năng quan sát, kỹ năng nhạy cảm xã hội, biết phán đoán nét mặt người khác, kỹ năng đọc, hiểu, biết mô hình hóa nhân cách học sinh, kỹ năng làm gương cho học sinh, kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ, kỹ năng kiến tạo sự tiếp xúc, kỹ năng nhận thức (Ngô Công Hoàn, 2007).Dakharov nghiên cứu đề ra trắc nghiệm 10 kỹ năng giao tiếp gồm kỹ năng tiếp xúc, thiết lập quan hệ, kỹ năng biết cân bằng nhu cầu bản thân và 8 đối tượng trong quá trình giao tiếp, kỹ năng nghe đối tượng, kỹ năng tự kiềm chế, kiểm tra người khác, kỹ năng tự chủ cảm xúc hành vi, kỹ năng diễn đạt dễ hiểu, cụ thể, kỹ năng linh hoạt, mềm dẻo trong giao tiếp, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng chủ động điều khiển quá trình giao tiếp, kỹ năng nhạy cảm trong giao tiếp (Ngô Công Hoàn, 2007). Năm 1988, Allan Pease, một nhà Tâm lý học Mỹ - đã xuất bản cuốn “Body language” (1988) với bản tiếng Việt là “Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể” do Lê Huy Lâm dịch vào năm 2008 đã phân tích kỹ năng phát hiện các trạng thái tâm lý thông qua cử chỉ, điệu bộ… của con người (Allan Pease, 2008).
Năm 1944, Derak Torrington xuất bản tác phẩm “Tiếp xúc mặt đối mặt trong quản lý” phân tích các hình thức giao tiếp thường gặp giữa người quản lý với người bị quản lý. Từ đó, rút ra những kỹ năng giao tiếp cần có của người quản lý (D. Một quyển sách nổi tiếng của tác giả Dale Carnegie là “Đắc nhân tâm” (2002) đã đưa kỹ năng giao tiếp thành nghệ thuật, hệ thống những bí quyết để đạt hiệu quả cao trong giao tiếp (Dale Carnegie, 2002). Năm 2003, tác giả Paul Ekman với tác phẩm “Emotion Revealed” đã rút ra được kỹ năng nhận diện nét mặt và các cảm xúc đi kèm trong quá trình giao tiếp thông qua các cảm xúc biểu hiện giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp (Paul Ekman, 2003).
Ở Việt Nam Tại Việt Nam, ngành Tâm lý học nói chung và phân nhánh Tâm lý học giao tiếp nói riêng vẫn còn là ngành khoa học non trẻ. Tuy vậy, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu cả về lý luận lẫn thực tiễn. Có thể chia thành nhiều hướng nghiên cứu như sau: Cũng như trên thế giới, hướng đầu tiên nghiên cứu hệ thống lý luận của khái niệm giao tiếp với các vấn đề như bản chất, vai trò, vị trí của giao tiếp 9 trong sự hình thành nhân cách. Trong đó, có thể kể đến “Các Mác và phạm trù giao tiếp” (1963) của Đỗ Long, tác giả Bùi Văn Huệ với “Bàn về phạm trù giao tiếp” (1981); “Giao tiếp, tâm lý, nhân cách” (1981) và “Giao tiếp và sự phát triển nhân cách của trẻ” (1981), “Giao tiếp và sự hình thành nhân cách thiếu niên” (1999) của tác giả Đào Thị Oanh, nhóm tác giả Nguyễn Sinh Huy, Trần trọng Thủy với “Nhập môn khoa học giao tiếp” (2006).
Hướng thứ hai nghiên cứu giao tiếp dưới góc độ giao tiếp sư phạm với hệ thống lý luận về khái niệm giao tiếp và các nguyên tắc, quy trình ứng xử trong giao tiếp sư phạm. Có thể kể đến một số giáo trình, sách tham khảo như “Đặc điểm giao tiếp sư phạm” (1985) của tác giả Trần Trọng Thủy, “Giao tiếp và ứng xử sư phạm” (1992) của tác giả Ngô Công Hoàn, “Giao tiếp sư phạm” (1997) của tác giả Hoàng Anh. Hướng cuối cùng tập trung vào nghiên cứu kỹ năng giao tiếp trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Đây cũng là hướng mà tác giả tập trung nghiên cứu trong đề tài.
Trong hướng nghiên cứu này, có thể kể đến một số tác giả và sản phẩm như: Nguyễn Văn Đính nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp của hướng dẫn viên du lịch trong “Giáo trình tâm lý và nghệ thuật giao tiếp ứng xử trong kinh doanh du lịch” (1997) như kỹ năng định hướng, kỹ năng định vị, kỹ năng điều khiển giao tiếp (Hoàng Thị Chiến, 2012); tác giả Trần Trọng Thủy đề cập đến một số kỹ năng giao tiếp như kỹ năng chỉnh sửa các ấn tượng ban đầu của mình về người khác khi mới quen họ, kỹ năng bước vào giao tiếp với người khác một cách không có định kiến trong bài “Tình người, giao tiếp và văn hóa giao tiếp” (Nguyễn Huy Toàn, 2011). Tác giả Nguyễn Đình Xuân đã nghiên cứu GT trong quản lý với các vấn đề như khái niệm, ý nghĩa, chức năng, cấu trúc, loại hình và phong cách GT trong quản lý. Qua đó, tác giả đã đề cập đến một số KNGT như KN lựa chọn 10 địa điểm, thời gian tiếp khách, KN làm chủ cảm xúc của mình trong tiếp xúc, KN nghe và dẫn dắt người nói để thu thập thông tin, KN nói gọn gàng… (Nguyễn Đình Xuân và Vũ Đức Đán, 1994). Nhóm tác giả Nguyễn Đình Chỉnh, Phạm Ngọc Uyển trong tác phẩm “Tâm lý học quản lý” (1998) đã đề cập đến cấu trúc của giao tiếp.
Theo đó, giao tiếp sư phạm bao gồm các thành phần như biết định hướng, hiểu được các dấu hiệu bề ngoài và ngôn ngữ trong giao tiếp, biết điều khiển quá trình giao tiếp (Nguyễn Huy Toàn, 2011). Ngoài ra, còn có một số luận án, luận văn nghiên cứu thực tiễn như: Luận án Tiến sĩ của Võ Sĩ Lục về “Kỹ năng giao tiếp nghiệp vụ của trinh sát an ninh và phương pháp đánh giá chúng” (2002) nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp trong hoạt động nghiệp vụ của trinh sát an ninh dưới góc độ chia thành các nhóm: kỹ năng định vị, kỹ năng định hướng và kỹ năng điều khiển trong giao tiếp (Võ Sỹ Lục, 2002). Luận án Tiến sĩ “Một số đặc điểm giao tiếp ngoài giảng đường của sinh viên” (2007) của Nguyễn Văn Đồng đã đề cập đến thực trạng giao tiếp của sinh viên trong hoạt động ngoài giảng đường. Từ đó, đề xuất một số biện pháp để tác động nhằm tăng cường các yếu tố tích cực và khắc phục những yếu tố tiêu cực trong giao tiếp của khách thể nghiên cứu (Phạm Văn Đồng, 2007).
Luận văn thạc sĩ của tác giả Đới Thị Thu Thủy (2003) nghiên cứu về “Một số khó khăn tâm lý trong giao tiếp với giáo viên của sinh viên người dân tộc trường Cao đẳng sư phạm Lào Cai” đã tìm hiểu những khó khăn tâm lý nảy sinh trong quá trình giao tiếp với giáo viên của sinh viên người dân tộc trường Cao đẳng sư phạm Lào Cai, từ đó thực nghiệm một số biện pháp khắc phục những khó khăn tâm lý đó (Nguyễn Huy Toàn, 2011). Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Huy Toàn (2011) với đề tài “Kỹ năng giao tiếp của học viên Trường Trung cấp Cảnh sát nhân dân II” nghiên 11 cứu thực trạng kỹ năng giao tiếp của học viên trường Trung cấp Cảnh sát nhân dân II về một số kỹ năng cơ bản như kỹ năng lắng nghe, kỹ năng diễn đạt, kỹ năng điều khiển trong giao tiếp và tiến hành một số biện pháp thực nghiệm đối chứng (Nguyễn Huy Toàn, 2011).