phần mở đầu và kết luận - kiến nghị, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động dạy học môn kỹ năng giao tiếp theo phƣơng pháp dạy học tích cực Chƣơng 2: Thực trạng về tổ chức hoạt động dạy học môn kỹ năng giao tiếp tại trƣờng Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Cần Thơ Chƣơng 3: Triển khai tổ chức hoạt động dạy học môn kỹ năng giao tiếp theo phƣơng pháp dạy học tích cực và thực nghiệm sƣ phạm. PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN KỸ NĂNG GIAO TIẾP THEO PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu * Trên thế giới Vấn đề giao tiếp, KNGT và giáo dục KNGT cho con ngƣời nói chung, cho HSSV nói riêng đã đƣợc các nƣớc trên thế giới quan tâm khai thác, nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau. Đó là những khái niệm đơn giản mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đời sống và giai cấp xã hội ở từng thời điểm khác nhau: Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ cụ thể, ở các lĩnh vực khác nhau, nhƣ kỹ năng lao động của tác giả V.Tseburseva; Kỹ năng học tập của tác giả G.Menchinxcaia; Kỹ năng hoạt động sƣ phạm của X.
Trong các chƣơng trình hành động của UNESCO, UNICEF, các chƣơng trình hành động của các tổ chức xã hội nƣớc ngoài, KNGT đƣợc nghiên cứu thể hiện chủ yếu là xây dựng hệ thống các kỹ năng của từng loại hoạt động mô tả các kỹ năng cụ thể, các điều kiện, quy trình hình thành và phát triển hệ thống các kỹ năng đó. Ngƣời nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến những kỹ năng cơ bản nhƣ: KN nhận thức, KN giao tiếp, KN xác định giá trị và kỹ năng ra quyết định. Nghiên cứu những KNGT đơn lẻ: Phát triển kỹ năng nghe (A. C Pace [45] và John Steward [48])đƣa ra những yêu cầu cần thực hiện trong khi nghe.
Tại Úc: Hội đồng Kinh doanh cùng với Phòng thƣơng mại và công nghiệp có sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học cùng Hội đồng giáo dục quốc gia Úc năm 2002 đã xuất bản quyển sách “Kỹ năng hành nghề cho tƣơng lai”. Các kỹ 6 Luan van năng hành nghề đƣợc trình bày trong sách gồm có 8 kỹ năng, trong đó KNGT là một kỹ năng đƣợc đề cập đầu tiên.Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của KNGT trong xã hội.Vì vậy, các nhà nghiên cứu trên thế giới luôn tìm tòi để hoàn thiện trong quá trình giáo dục và giáo dục KNGT. Thực tế cho thấy, các hình thức tổ chức dạy học đƣợc xác định bởi các thành phần HS, địa điểm và thời gian học tập, bởi tính nhất quán của những dạng hoạt động của HS và bởi phƣơng thức GV chỉ đạo HS. Sự thay đổi các hình thức tổ chức dạy học để phản ánh nhiệm vụ mới của việc dạy học và giáo dục bao giờ cũng gắn liền với sự thay đổi tính chất chung của hoạt động của GV và HS.
* Ở Việt Nam Vấn đề giao tiếp ở nƣớc ta đƣợc xem là một trong những kỹ năng cơ bản. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, những thành tựu khoa học và thông tin bùng nổ, thì vấn đề giao tiếp trong xã hội đƣợc coi là điều kiện tất yếu để khẳng định sự thành công trong cuộc sống hay nói cách khác, đó là sự “cạnh tranh” để phát triển, là điều kiện tất yếu mở rộng mối quan hệ, khẳng định đƣợc thành công trong các lĩnh vực hoạt động của con ngƣời. Ở nƣớc ta, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề giao tiếp, KNGT dƣới góc độ tâm lý GDH. Bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX, có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Việt Nam nhƣ Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thuỷ, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lê.
đƣợc công bố, in ấn, xuất bản và áp dụng trong giáo dục, trong cuộc sống. Trong những năm gần đây, nghiên cứu KNGT về tổ chức hoạt động dạy học tập trung khá lớn vào góc độ chuyên môn, nghề nghiệp: Các nghiên cứu về giáo dục KNGT cho đối tƣợng HS phổ thông khá phong phú với cách tiếp cận đa dạng: nghiên cứu KNGT và những yếu tố ảnh hƣởng đến KNGT của HS dân tộc thiểu số, HS miền núi trong Luận án tiến sĩ năm 2012 của tác giả Ngô Giang Nam. “Đặc điểm giao tiếp của HS trung học cơ sở dân tộc Mƣờng” của tác giả Phạm Song Hà, phát triển KNGT cho ngƣời học ngoại ngữ của Bùi Thị Hiền năm 2015; giáo dục phát triển KNGT cho học sinh phổ thông qua các môn học khác nhau nhƣ Toán, 7 Luan van Giáo dục công dân của các tác giả Đinh Thế Định, Nguyễn Thị Nga [31], Trần Ngọc Bích [6]; Phƣơng pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục KNGT trong các trƣờng đào tạo nghề của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà [23]). Giao tiếp trong môi trƣờng sƣ phạm, tổ chức hoạt động daỵ học các môn học trong trƣờng phổ thông, trƣờng cao đẳng, đại học cũng đã đƣợc đề cập trong một số đề tài, bài viết, công trình nghiên cứu, luận văn, luận án nhƣ: Nguyễn Kỳ [26] với quyển sách “Thiết kế bài học theo PP tích cực”.
Tác giả đã thực nghiệm thành công và có hiệu quả phƣơng pháp này ở trƣờng tiểu học Lê Văn Tám (Hà Nội).Trong quyển sách này tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữa thầy và trò trong nhà trƣờng.Đó là mối quan hệ thầy – lớp – trò. Trần Bá Hoành với các bài:”Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” đăng trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 96 tháng 1/2002 [25], bài “PP tích cực” đăng trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 32 tháng 3/2003 [24] đã nêu rõ thế nào là dạy học lấy HS làm trung tâm, thế nào là PPDH tích cực. Tác giả chỉ rõ những đặc trƣng của PPDH tích cực. Quyển sách “Phát triển tính tích cực, tính tự lực của HS trong quá trình dạy học” của tác giả Nguyễn Ngọc Báo [5] đã đƣa ra quan niệm học là hoạt động tích cực, tự lực và là trung tâm của quá trình dạy học và đã nêu lên các PP nhằm tích cực hóa hoạt động của HS.
Đề tài “Tổ chức hoạt động dạy học chƣơng Dao động học Vật lý lớp 12 theo hƣớng phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của HS THPT miền núi” của Phạm Văn Cƣờng (2013). Luận văn Thạc sĩ “Biện pháp giáo dục KNGT cho HS tiểu học trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên -Tỉnh Thái Nguyên” của Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2009). Luận án Tiến sĩ “Giáo dục KNGT cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo tiếp cận hợp tác” của Nguyễn Thị Thu Hà (2016). Luận văn Thạc sĩ “Tổ chức hoạt động dạy học môn Vật lý Đại cƣơng theo hƣớng phát huy năng lực sáng tạo của sinh viên các trƣờng Cao đẳng Công nghiệp” của tác giả Nguyễn Thị Huệ (2009).
8 Luan van Luận văn Thạc sĩ “Tổ chức hoạt động dạy học theo hƣớng phát huy năng lực tƣ duy sáng tạo cho sinh viên các trƣờng Cao đẳng, đại học khối Nông-Lâm-Ngƣ khi dạy phần “Nhiệt học trong chƣơng trình Vật lý đại cƣơng” của Nguyễn Thị Thu Hằng (2010). Theo người nghiên cứu: Nhìn chung các đề tài, công trình nghiên cứu, luận văn, luận án trên đã đề cập nhiều góc độ khác nhau về KNGT, hoạt động giáo dụcKNGT trên những đối tượng và địa bàn khác nhau. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về dạyhọc môn KNGT được thực hiện trên đối tượng HS TCCN, đặc biệt là chưa có đề tài nào nghiên cứu về ―Tổ chức hoạt động dạy học môn KNGT cho HS TCCN tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Cần Thơ theo phương pháp dạy học tích cực”. Do đó, nghiên cứu về đề tài này là một yêu cầu khách quan và rất cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo của trường, góp phần đào tạo nhân lực cho thành phố Cần Thơ và vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020.
Các khái niệmcơ bản 1. Dạy học Theo từ điển GDH, dạy học (giảng dạy) là hoạt động truyền thụ kiến thức, kỹ năng cho ngƣời học của nhà giáo.Giảng dạy luôn luôn đi đôi và gắn liền với hoạt động học tập của HS và hợp thành hoạt động dạy – học trong lĩnh vực sƣ phạm. Cũng theo từ điển GDH,“Học là quá trình tiếp thu kiến thức và rèn luyện kỹ năng dƣới sự hƣớng dẫn của nhà giáo. Học luôn gắn liền với hoạt động dạy của nhà giáo và hợp thành hoạt động dạy-học trong lĩnh vực sƣ phạm.
201] Dạy – học là một hoạt động diễn ra trên hai tuyến song hành giữa ngƣời dạy và ngƣời học. Vì vậy, quá trình dạy học chỉ đạt hiệu quả cao khi có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa GV và HS trên các khâu: mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp, hay nói cách khác là khi có sự hợp tác ăn ý giữa ngƣời dạy và ngƣời học. Trong mối quan hệ này, ngƣời dạy đóng vai trò định hƣớng, gợi mở, cung cấp, chỉ dẫn những điều cần thiết về mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp… phù hợp với ngƣời học, còn ngƣời học tự mình chủ động xác định, lựa chọn những điều đƣợc cung cấp sao cho 9 Luan van phù hợp với năng lực, sở trƣờng, điều kiện riêng của mình để hoàn thành tốt nhất yêu cầu của chƣơng trình quy định.62] Dạy học bao gồm hai hoạt động: hoạt động dạy và hoạt động học. Hai hoạt động này luôn gắn bó mật thiết với nhau, tồn tại cho nhau và vì nhau.
Hoạt động dạy của ngƣời GV: Là hoạt động lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của GV đối với hoạt động nhận thức – học tập của HS, giúp HS tìm tòi khám phá tri thức, qua đó thực hiện có hiệu quả chức năng học của bản thân. Để hiểu thực chất của hoạt động này, GV cần đề ra mục đích, yêu cầu nhận thức – học tập, xây dựng kế hoạch hoạt động của mình và dự tính hoạt động nhận thức – học tập tƣơng ứng của ngƣời học, kích thích tính tự giác, tính tích cực, độc lập, chủ động sáng tạo của ngƣời học bằng cách tạo nên nhu cầu, động cơ, hứng thú, khêu gợi tính tò mò, ham hiểu biết của ngƣời học, làm cho họ ý thức rõ trách nhiệm, nghĩa vụ học tập của mình, cuối cùng là theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của ngƣời học, qua đó có những biện pháp điều chỉnh, sửa chữa kịp thời những thiếu sót, sai lầm của họ cũng nhƣ trong công tác giảng dạy của mình.[18] Tóm lại: Dạy là sự tổ chức và điều khiển tối ưu quá trình HS chiếm lĩnh tri thức nhằm hình thành và phát triển nhân cách.