Luận án Tiến sĩ: Kỹ năng ứng phó stress trong học tập tín chỉ của sinh viên Đại học Sư phạm

Nghiên cứu chuyên sâu về kỹ năng ứng phó với stress trong hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên đại học sư phạm, đưa ra các giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Tâm lí học

Tác giả

Đỗ Văn Đoạt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2013

177
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kỹ năng ứng phó stress học tập của sinh viên Sư phạm

Stress học tập là trạng thái căng thẳng tâm lý xảy ra khi sinh viên đối mặt với yêu cầu vượt quá khả năng hiện tại. Hiện tượng này đặc biệt phổ biến ở sinh viên Đại học Sư phạm trong bối cảnh đào tạo theo học chế tín chỉ. Học chế tín chỉ đòi hỏi người học phải chủ động, tích cực và có khả năng tự quản lý thời gian hiệu quả. Theo luận án của Đỗ Văn Đoạt (2013), kỹ năng ứng phó (KNƯP) là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hoạt động cụ thể nhằm thực hiện hiệu quả hoạt động đó. KNƯP bao gồm việc nhận diện tác nhân gây căng thẳng, xác định phương án phù hợp và thực hiện hành động nhằm giải quyết tình huống vượt quá khả năng cá nhân. Kỹ năng này không phải bẩm sinh. Kỹ năng được hình thành và phát triển qua quá trình rèn luyện, trải nghiệm thực tế. Sinh viên sư phạm cần trang bị KNƯP để hoàn thành tốt chương trình đào tạo đồng thời chuẩn bị hành trang tâm lý vững chắc cho nghề giáo tương lai.

1.1. Khái niệm stress học tập trong môi trường đại học

Stress học tập là phản ứng tâm sinh lý xuất hiện khi sinh viên cảm thấy áp lực từ chương trình đào tạo, lịch thi cử, khối lượng bài vở vượt quá khả năng đáp ứng. Trong môi trường đại học, stress có nguồn gốc từ nhiều yếu tố: phương pháp giảng dạy mới, yêu cầu tự học cao, áp lực điểm số và kỳ vọng từ gia đình. Stress không hoàn toàn tiêu cực. Ở mức độ vừa phải, stress tạo động lực thúc đẩy sinh viên nỗ lực hơn. Tuy nhiên, khi stress kéo dài và vượt ngưỡng chịu đựng, sức khỏe thể chất và tinh thần đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhận diện đúng mức độ stress là bước đầu tiên để xây dựng phương án ứng phó phù hợp.

1.2. Bản chất của kỹ năng ứng phó stress học tập

Kỹ năng ứng phó là sự tổng hợp giữa tri thức, kinh nghiệm và khả năng thực hành trong tình huống căng thẳng. Ứng phó không phải hành vi xảy ra một lần mà là chuỗi phản ứng tương hỗ qua thời gian. Theo tài liệu tham khảo trong luận án, KNƯP bao hàm ba chiều: nhận thức (nhận diện tác nhân), hành động (tìm kiếm phương án) và cảm xúc (điều chỉnh phản ứng cảm xúc). Người có kỹ năng ứng phó tốt biết lường trước thuận lợi và khó khăn, đồng thời chủ động tìm giải pháp thay vì né tránh vấn đề. Kỹ năng này cần được rèn luyện thường xuyên để trở thành thói quen phản ứng tích cực.

II. Phân tích nguyên nhân gây stress học tập ở sinh viên Sư phạm

Stress học tập ở sinh viên Đại học Sư phạm xuất phát từ nhiều nguyên nhân phức tạp. Thứ nhất, áp lực từ học chế tín chỉ tạo ra yêu cầu cao về tính tự chủ và khả năng quản lý thời gian. Sinh viên phải tự đăng ký môn học, sắp xếp lịch học và chịu trách nhiệm hoàn toàn về tiến độ học tập. Thứ hai, khối lượng kiến thức lớn kết hợp với phương pháp đánh giá liên tục gây áp lực thường xuyên. Thứ ba, nhiều sinh viên sư phạm xuất thân từ vùng nông thôn, thiếu kỹ năng tự học và khả năng thích nghi với môi trường học tập mới. Ngoài ra, yếu tố gia đình, hoàn cảnh kinh tế và mối quan hệ xã hội cũng góp phần gia tăng mức độ stress. Nghiên cứu cho thấy sinh viên năm thứ nhất và năm cuối thường chịu áp lực nặng nhất. Năm thứ nhất do bỡ ngỡ với môi trường mới. Năm cuối do lo lắng về thực tập, luận văn và cơ hội việc làm. Việc xác định rõ nguyên nhân giúp xây dựng giải pháp ứng phó针对性 hơn.

2.1. Áp lực từ đặc thù đào tạo theo học chế tín chỉ

Học chế tín chỉ mang lại nhiều ưu điểm như tính linh hoạt, phát huy năng lực tự học và tôn trọng cá nhân người học. Tuy nhiên, hình thức đào tạo này đặt ra yêu cầu rất cao cho sinh viên. Người học phải chủ động đăng ký môn, quản lý lịch trình, hoàn thành nhiều bài tập nhóm, thuyết trình và kiểm tra giữa kỳ. Sinh viên không quen với việc tự học sẽ cảm thấy choáng ngợp trước khối lượng công việc. Việc lựa chọn môn học sai lệch cũng dẫn đến quá tải hoặc không đạt kết quả như kỳ vọng. Những yếu tố cộng dồn này tạo nên áp lực tâm lý đáng kể cho sinh viên sư phạm.

2.2. Các yếu tố cá nhân và môi trường ảnh hưởng đến mức độ stress

Mức độ stress học tập bị chi phối bởi nhiều yếu tố cá nhân và môi trường. Về cá nhân, đặc điểm nhân cách, khả năng tự điều chỉnh cảm xúc và kinh nghiệm sống trước đó đóng vai trò quan trọng. Sinh viên có nội tâm mạnh mẽ thường ứng phó tốt hơn. Về môi trường, sự hỗ trợ từ giảng viên, bạn bè và gia đình giúp giảm đáng kể áp lực tâm lý. Ngược lại, môi trường cạnh tranh khắc nghiệt, thiếu hỗ trợ xã hội sẽ làm tăng nguy cơ stress. Hoàn cảnh kinh tế khó khăn cũng là yếu tố cộng hưởng khiến sinh viên dễ rơi vào trạng thái căng thẳng kéo dài.

III. Phương pháp phát triển kỹ năng ứng phó stress học tập hiệu quả

Phát triển kỹ năng ứng phó stress đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa nhiều phương pháp. Tài liệu trong luận án phân loại phương án ứng phó thành ba loại chính: hướng đến tác nhân kích thích, hướng đến làm giảm nhẹ stress và hướng đến nhận thức. Phương án hướng đến tác nhân tập trung giải quyết nguyên nhân gốc rễ của vấn đề. Phương án giảm nhẹ stress nhằm hạn chế tác động tiêu cực lên cơ thể và tâm trí. Phương án nhận thức thay đổi cách diễn giải tình huống khó khăn. Ngoài ra, phương án ứng phó còn được phân theo chiều: nhận thức (cognitive), hành động (behavioral) và sinh lý (physiological). Phương án nhận thức bao gồm thay đổi cách nhìn nhận vấn đề. Phương án hành động bao gồm lên kế hoạch, sắp xếp công việc. Phương án sinh lý bao gồm thư giãn cơ thể, thể dục. Cách ứng phó bằng sinh lý chỉ mang tính tạm thời vì không giải quyết trực tiếp nguyên nhân. Sinh viên cần ưu tiên phương án nhận thức và hành động để đạt hiệu quả bền vững.

3.1. Xây dựng phương án ứng phó bằng nhận thức và hành động

Phương án ứng phó bằng nhận thức tập trung thay đổi cách diễn giải hoàn cảnh khó khăn. Sinh viên học cách nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau thay vì phản ứng tiêu cực. Ví dụ, thay vì nghĩ Môn này quá khó, không thể vượt qua, sinh viên chuyển sang suy nghĩ Môn này cần thêm thời gian và phương pháp học phù hợp. Phương án hành động bao gồm việc lên kế hoạch học tập rõ ràng, chia nhỏ mục tiêu, sắp xếp ưu tiên công việc và thực hiện từng bước có hệ thống. Kết hợp hai phương án này giúp sinh viên vừa kiểm soát được cảm xúc vừa giải quyết hiệu quả vấn đề gốc rễ.

3.2. Tăng cường hỗ trợ xã hội và kỹ năng quản lý thời gian

Hỗ trợ xã hội là yếu tố bảo vệ quan trọng giúp sinh viên vượt qua stress học tập. Mạng lưới hỗ trợ bao gồm giảng viên hướng dẫn, bạn bè cùng lớp, gia đình và các dịch vụ tư vấn tâm lý trong trường. Sinh viên chủ động tìm kiếm sự giúp đỡ khi gặp khó khăn sẽ giảm đáng kể áp lực tâm lý. Bên cạnh đó, kỹ năng quản lý thời gian giúp sinh viên cân bằng giữa học tập, nghỉ ngơi và hoạt động ngoại khóa. Sử dụng lịch học tập, đặt mục tiêu theo tuần, tránh trì hoãn là những thói quen hiệu quả. Hai yếu tố này bổ trợ lẫn nhau trong việc xây dựng hệ thống ứng phó stress toàn diện.

IV. Kết luận và ứng dụng kỹ năng ứng phó stress trong đào tạo Sư phạm

Kỹ năng ứng phó stress học tập giữ vai trò then chốt trong quá trình phát triển toàn diện của sinh viên Đại học Sư phạm. Nghiên cứu cho thấy sinh viên có KNƯP tốt đạt kết quả học tập cao hơn, duy trì động lực học tập bền vững hơn và có sức khỏe tâm lý ổn định hơn. Trong đào tạo sư phạm, việc trang bị KNƯP không chỉ giúp sinh viên hoàn thành chương trình học mà còn chuẩn bị năng lực tâm lý cần thiết cho nghề giáo. Giáo viên tương lai sẽ phải đối mặt với nhiều tình huống căng thẳng trong nghề: quản lý lớp học, áp lực đổi mới phương pháp, mối quan hệ với phụ huynh. Nếu không có kỹ năng ứng phó từ sớm, nguy cơ kiệt sức nghề nghiệp rất cao. Các trường sư phạm nên tích hợp nội dung rèn luyện KNƯP vào chương trình đào tạo chính thức. Hoạt động này có thể thực hiện thông qua khóa học kỹ năng mềm, tư vấn tâm lý chuyên sâu và mô hình cố vấn học tập. Đầu tư vào KNƯP cho sinh viên sư phạm là đầu tư vào chất lượng giáo dục tương lai.

4.1. Ý nghĩa thực tiễn đối với sinh viên và cơ sở đào tạo

Kết quả nghiên cứu về KNƯP stress học tập có giá trị ứng dụng cao cho cả sinh viên lẫn nhà trường. Đối với sinh viên, việc nhận biết và rèn luyện KNƯP giúp giảm thiểu tác động tiêu cực của stress, nâng cao hiệu quả học tập và cải thiện chất lượng cuộc sống. Đối với cơ sở đào tạo, chương trình đào tạo nên lồng ghép nội dung phát triển KNƯP vào các môn kỹ năng mềm, hoạt động ngoại khóa và hệ thống tư vấn tâm lý. Giảng viên đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện sớm dấu hiệu stress và hỗ trợ sinh viên kịp thời. Sự kết hợp giữa nhà trường và sinh viên tạo nên môi trường học tập lành mạnh, bền vững.

4.2. Hướng phát triển và nâng cao năng lực ứng phó cho sinh viên

Trong tương lai, việc nghiên cứu và phát triển KNƯP cần được mở rộng theo nhiều hướng. Thứ nhất, xây dựng chương trình đào tạo KNƯP chuyên biệt cho từng nhóm sinh viên dựa trên mức độ stress và đặc điểm cá nhân. Thứ hai, ứng dụng công nghệ thông tin trong hỗ trợ sinh viên: phần mềm quản lý thời gian, ứng dụng thiền định, nền tảng tư vấn trực tuyến. Thứ ba, tăng cường nghiên cứu dài hạn về hiệu quả của các can thiệp KNƯP trong bối cảnh giáo dục Việt Nam. Thứ tư, đào tạo đội ngũ giảng viên có khả năng phát hiện và hỗ trợ sinh viên gặp stress. Những hướng phát triển này góp phần xây dựng hệ thống phòng ngừa stress toàn diện trong giáo dục đại học.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ tâm lí học kĩ năng ứng phó với stress trong hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên đại học sư phạm

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KĨ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI STRESS TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO TÍN CHỈ CỦA SV ĐHSP 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Tình hình nghiên cứu kĩ năng ứng phó với stress trong hoạt động học tập theo tín chỉ ở nước ngoài 1. Nghiên cứu về ứng phó với stress, stress trong học tập * Nghiên cứu về ứng phó với stress: Đã có nhiều nước trên thế giới quan tâm đến khả năng ứng phó với những hoàn cảnh khó khăn, stress.

Những nghiên cứu chủ yếu đi vào các vấn đề liên quan như: cách ứng phó, hành vi ứng phó. Qua nghiên cứu tài liệu, chúng tôi tổng hợp, phân tích theo các hướng tiếp cận chính sau đây: Cách đo hành vi ứng phó; Ảnh hưởng của ƯP đến thể chất và tinh thần; Cách ứng phó liên quan đến những trải nghiệm sớm của cá nhân; Ảnh hưởng của các thành phần tâm lí cơ bản đến hành vi và cách ứng phó; Mối quan hệ giữa cách ứng phó với sự chuyển đổi xã hội. [23] + Cách đo hành vi ứng phó: Đây là hướng nghiên cứu nhằm xây dựng những trắc nghiệm đo hành vi ứng phó xem con người ứng phó như thế nào đối với hoàn cảnh. Folkman và Lazarus (1980) đã xây dựng trắc nghiệm “Cách ứng phó”.

Trắc nghiệm đo hai kiểu ứng phó cơ bản nhất là: 1. Kiểu ứng phó tập trung cảm xúc: đây là kiểu ứng phó chú ý nhiều đến cảm xúc cá nhân, kiểu ứng phó này có mục đích làm giảm sự căng thẳng trong các tình huống mà con người gặp phải; 2. Kiểu ứng phó tập trung giải quyết vấn đề: là kiểu ứng phó hướng vào việc giải quyết vấn đề hay định hướng để thay đổi hoàn cảnh. Tuy vậy, trên thực tế cách ứng phó của con người không đơn giản chỉ là hai cách như Folkman và Lazarus đã nêu, nó mang tính đa dạng.

Nên, một trắc nghiệm khác được ra đời. Đó là trắc nghiệm “Ứng phó” của Carver, Sheiner, và 9 Weintraub (1989). Các tác giả đưa ra 5 thang đo về cách ứng phó tập trung vào vấn đề, 5 thang đo về cách ứng phó tập trung vào cảm xúc, 3 thang đo về cách ứng phó không tích cực. Bên cạnh những thang đo được liệt kê ở trên còn có nhiều trắc nghiệm, thang đo khác nhưng ít được dùng hơn.

+ Ảnh hưởng của KNƯP đến thể chất và tinh thần: Nhiều nghiên cứu trên thế giới khẳng định những hạn chế về KNƯP với các hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống của vị thành niên ảnh hưởng tiêu cực đến thể chất và tinh thần của họ. Nezu và Ronan (1988) nghiên cứu về kĩ năng ứng phó của trẻ vị thành niên. Họ chỉ ra rằng nếu vị thành niên không có kĩ năng phòng ngừa những tác động của hoàn cảnh có thể dẫn đến stress, trầm cảm và lo âu. Để giải quyết được các vấn đề, vị thành niên cần có niềm tin dựa vào năng lực, xác lập được những KNƯP với những hoàn cảnh khó khăn của bản thân.

[67, tr1] Kovacs (1989) lại cho rằng, có nhiều vấn đề về tâm thần của trẻ em liên quan đến sự hiểu biết của các em về các kĩ năng xã hội. Đây là một trong những nguyên nhân làm tăng ý tưởng và hành vi tự sát. [67, tr2] Các tác giả khác như: Carver, Scheiner và Weintraub (1989) thì cho rằng: Hành vi ứng phó có tính chất ổn định và được coi là xu hướng ứng xử. Theo các tác giả, con người có cách ứng phó nhất định trong nhiều tình huống khác nhau.

Cách ứng phó của cá nhân ảnh hưởng đến chính cá nhân đó. [58] Như vậy, những tác giả trên chủ yếu quan tâm đến KNƯP với hoàn cảnh khó khăn ở tuổi vị thành niên và những ứng dụng vào thực tiễn nhằm nâng cao kĩ năng này cho các em. + Cách ứng phó liên quan đến những trải nghiệm sớm của cá nhân: Một xu hướng khác nghiên cứu về kĩ năng ứng phó, đó là: Cách ứng phó thể hiện mối liên quan giữa hành vi ứng phó với các sự kiện của cuộc sống, những trải nghiệm sớm của cá nhân. Dưới đây là những nghiên cứu thể hiện xu hướng này.R (1994) cho rằng, đứa trẻ có những trải nghiệm âm tính sớm thường có kiểu ứng phó dồn nén, ức chế khi nó gặp quang cảnh của sự kiện cũ hoặc những hoàn cảnh làm chúng liên tưởng tới những sự kiện cũ, đặc biệt những sự kiện liên quan đến gia đình.

Ở hoàn cảnh này, có mối quan hệ chặt chẽ giữa các trải nghiệm cảm xúc với cách mà con người ứng phó với hoàn cảnh khó khăn, với stress tâm lý. [86] Maria Cristina Richaud (2000) nghiên cứu và nhận thấy mối quan hệ với cha mẹ và bạn cùng tuổi trong thời thơ bé được coi là một trong những khía cạnh quan trọng nhất, quyết định sự phát triển của nhân cách và hành vi, nó hỗ trợ cho suốt cuộc đời. Những người có khó khăn trong mối quan hệ tương tác có thể có nguy cơ không phát triển nguồn lực phù hợp để ứng phó với khó khăn, stress trong cuộc sống. Những người như vậy luôn có xu hướng cảm nhận thế giới là rất nguy hiểm, thù địch và họ cảm thấy cần phải tiếp cận một cách hung hăng hơn, lảng tránh hay ức chế.

Đối với lứa tuổi vị thành niên, khi đối mặt với đặc trưng phiền phức của giai đoạn khủng hoảng cuộc sống, kiểu ứng phó được phát triển từ thời thơ bé được đem ra áp dụng. Những kiểu ứng phó như vậy có thể thay đổi theo những khó khăn trong cuộc sống vào thời điểm đặc biệt. Kiểu ứng phó về sau có liên quan cơ bản đến kiểu tương tác với bố mẹ và bạn cùng lứa được thiết lập trong giai đoạn này. Khi trẻ mở rộng mối quan hệ xã hội, các em dần xa những người thân trong gia đình.

Tuy nhiên, những mối quan hệ mới được hình thành sẽ phản ánh mẫu hình giống như đã học được ở gia đình. Mặt khác, giới tính và độ tuổi của vị thành niên quyết định mỗi kiểu ứng phó. [83] + Ảnh hưởng của các vấn đề tâm lí cá nhân và xã hội đến hành vi ứng phó và cách ứng phó: Cảm giác về một chỗ dựa tinh thần và vật chất, thông tin và cảm xúc ở con người là một cảm giác dương tính, chi phối hoàn toàn đến cách ứng xử với người khác, với môi trường xã hội cũng như với những tình huống khó khăn. Đây là nghiên cứu về sự ủng hộ xã hội của các tác giả: Cobb.

Các tác giả đều nhấn mạnh sự ủng hộ của xã hội là nhân tố trung gian thúc đẩy sự vững tin của con người, khích lệ con người thực hiện những hành động hiệu quả trong những tình huống khó khăn.A, Wallston, Smith, và Dobbins (1987), Cohen S và Edwards (1989), Taylor S.E, Helgeson, Reed và Skokan (1991) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa kiềm chế tâm lí và cách ứng phó có hiệu quả. Nghiên cứu khác lại đánh giá những đặc điểm của nhân cách là nguồn lực chính của hành vi ứng phó. Những đặc điểm đó là: tính tự tin, tính tự chủ, tính có trách nhiệm, biết đồng cảm với người khác, tính sẵn sàng trải nghiệm,… Đây là nghiên cứu của Holahan và Moos (1987, 1990, 1991), Worden và Sobel (1978), Friedman (1993). (1999) nghiên cứu mối liên quan đánh giá về tình huống khó khăn, nhận diện về các khía cạnh khác nhau của stress với hành vi ứng phó.

Theo họ, việc con người ứng xử như thế nào trong hoàn cảnh khó khăn thường chịu ảnh hưởng của việc họ đánh giá về chính hoàn cảnh đó, tình huống đó.L (1998); Horowwitz, Adler và Kegeles (1988) tiếp cận nghiên cứu mối liên quan của cách ứng phó với tính lạc quan và bi quan. Các tác giả nhận thấy tính lạc quan có quan hệ với khuynh hướng sử dụng cách ứng phó tập trung vào giải quyết vấn đề, tìm kiếm chỗ dựa xã hội, thể hiện những khía cạnh dương tính trong tình huống căng thẳng; ngược lại tính bi quan thường đi kèm với xu hướng ứng phó như phủ nhận hoặc tránh xa tình huống, tập trung trực tiếp vào những cảm giác căng thẳng của bản thân.H, Armeli S (1999); Lazarus và Folkman (1984) quan tâm đến vai trò của tính nhạy cảm đối với hành vi ứng phó trong tâm lí học nhân cách. Theo các tác giả, tính nhạy cảm tham gia vào mọi giai đoạn của quá 12 trình hình thành hành vi ứng phó của con người trong những hoàn cảnh gây căng thẳng, từ việc tri giác, đánh giá hoàn cảnh, huy động các nguồn lực ứng phó cho đến việc áp dụng các phương án ứng phó nhất định và đánh giá hậu quả của các ứng phó đã được lựa chọn. [72] [80] Hong Y, Chiu C, Dweck C.S, Wan W (1999) nghiên cứu mối quan hệ giữa trí tuệ và các thuộc tính của năng lực với xu hướng ứng phó tốt và nhận thấy các thuộc tính của năng lực là cầu nối trung gian giữa trí tuệ và xu hướng ứng phó của con người.

[75] Lazarus và Folkman cho rằng hành vi ứng phó có tính chất tình huống rõ rệt, chịu ảnh hưởng từ chính cách nhìn nhận, đánh giá tình huống của con người ngay trong thời điểm xảy ra tình huống. Mục đích của các nghiên cứu của các tác giả này nhằm tìm ra những khuôn mẫu ứng phó có hiệu quả với những tình huống, hoàn cảnh nhất định để có thể giúp những người rơi vào hoàn cảnh đó có cách ứng phó phù hợp. [80] Vai trò của tôn giáo, niềm tin và ảnh hưởng của nó đến hành vi ứng phó và cảm giác bình an của con người được Mahoney nghiên cứu và công bố. Tác giả đã có bước tổng hợp các nghiên cứu trước về KNƯP với hoàn cảnh của cá nhân được khích lệ bởi gia đình, bạn bè và cha cố trong nhà thờ trước khi hình thành nghiên cứu của mình về vai trò của tôn giáo đối với cách con người ứng xử với hoàn cảnh khó khăn.

Theo tác giả, chính những lời răn dạy của chúa, những lời khuyên của cha cố về sự bình yên trong tâm hồn đã hướng con người đến cách ứng xử nhất định với hoàn cảnh. Như vậy, các nghiên cứu theo khuynh hướng tìm kiếm mối quan hệ của các nhân tố tâm lí xã hội và tâm lí cá nhân đã xác định được ảnh hưởng của các nhân tố này đối với cách mà con người ứng xử trong những hoàn cảnh khó khăn. + Mối quan hệ giữa cách ứng phó với sự chuyển đổi xã hội: McCubbin (1980) nghiên cứu ảnh hưởng có hại của cách ứng phó sai lầm với stress trong gia đình và chỉ ra rằng cách ứng phó sai lầm có thể dẫn đến việc phá huỷ hệ thống gia đình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ