CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ GIAO TIẾP VÀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu đề tài Vấn đề GT không những là nhu cầu của mỗi cá nhân trong xã hội mà nó còn đóng vai trò quan trọng trong hình thành nhân cách của cá nhân thông qua các mối quan hệ xã hội. Vì vậy GT và KNGT đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Có thể điểm qua vài nghiên cứu trong nước và ngoài nước về vấn đề GT như sau: 1.
Những nghiên cứu về giao tiếp Những năm đầu thế kỷ 20, Tâm lý học đã bắt đầu quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu về vấn đề GT. Những nghiên cứu của S.Freud về sự đồng nhất hóa để lý giải, phân tích các giấc mơ và một số quá trình ở trẻ em như sự bắt chước các khuôn mẫu của “những người quan trọng khác”, sự hình thành cái “siêu tôi”, tiếp nhận vai trò nam, nữ,… đã cho thấy cơ chế đồng nhất hóa đảm bảo mối liên hệ qua lại giữa các chủ thể trong nhóm xã hội từ đó tạo ra sự đồng nhất cảm xúc, thấu cảm, tiếp thu tình cảm của người khác [19]. Trong GT, sự đồng nhất này là vô cùng quan trọng vì nó cho phép cá nhân hiểu được tâm lý của một người xa lạ với cái tôi của cá nhân. Theo Freud, trong một số trường hợp thì sự đồng nhất cảm xúc mang tính chất “truyền nhiễm tâm lý” và rất đặc trưng cho đám đông hợp quần.
Tâm lý học Gestalt nghiên cứu GT như một cấu trúc trọn vẹn. Họ phân tích GT thành các yếu tố và đặt chúng trong hệ thống các yếu tố rộng hơn, các quan hệ xã hội. Khi nghiên cứu các yếu tố GT, nhà tâm lý học Pháp Bateson đã phân biệt thành hai hệ thống GT là GT đối xứng và GT bổ sung. Theo ông, mọi GT đều biểu hiện ra ở một trong những phương thức ấy thể hiện tính hệ thống khi thiết lập được sự bình đẳng hay sự tương hỗ và tính bổ sung khi thể hiện sự khác nhau.Kolominxki, “Tâm lý học giao tiếp” (1978) của A.Leonchiev, “Giao tiếp trong tâm lý học” (1981) của K.Platonov, “Phạm trù giao tiếp và hoạt động trong tâm lý học” của B.
Hướng nghiên cứu này tồn tại hai luồng quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng GT có thể là một dạng hoạt động hoặc có thể là một phương thức, điều kiện của hoạt động. Đại diện cho quan điểm theo xu hướng này là A. Quan điểm thứ hai cho rằng hoạt động và giao tiếp là những phạm trù tương đối độc lập trong quá trình thống nhất của đời sống con người.
Phạm trù “hoạt động” phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể - khách thể, phạm trù “giao tiếp” phản ánh mối quan hệ chủ thể - chủ thể. [30] Hướng thứ 2: nghiên cứu các dạng GT nghề nghiệp trong đó giao tiếp sư phạm là một loại GT nghề nghiệp được nhiều nhà TLH quan tâm nghiên cứu.B Elconin đã nghiên cứu và viết về “Những vấn đề hình thành tri thức và kỹ năng cho học sinh và những phương pháp dạy học mới ở trường phổ thông” đã được trình bày trong cuốn “Những vấn đề của tâm lý học”.Ia Galperin còn nghiên cứu vấn đề “Hình thành tri thức và kỹ năng theo lý thuyết hình thành hành động trí tuệ qua từng giai đoạn” đã được xuất bản năm 1968. Đồng thời, cũng có nhiều tác giả khác cũng nghiên cứu về giao tiếp sư phạm như A. Leonchiev với “Giao tiếp sư phạm” (1979), A.Petropxki với “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm”, V.Krutetxki với “Những cơ sở của tâm lý học sư phạm” (1980), Ph.Gonobolin với “Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên”.
Học thuyết về nhu cầu của A. Maslow đưa ra hệ thống năm bậc về nhu cầu của con người. Trong quá trình GT, cá nhân cần có khả năng nhận diện và khêu gợi ở người khác những nhu cầu nhất định vì thông qua GT các chủ thể mới có thể được thỏa mãn và làm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân. [24] Học thuyết phân tích giao tiếp dựa trên cơ sở mọi hành vi của con người đều xuất phát từ một trong ba trạng thái bản ngã là phụ mẫu, thành niên và trẻ con.
Trong quá trình GT với nhau, khi người này đưa ra một tác nhân từ một trong ba 13 trạng thái bản ngã thì người kia cũng đáp lại một phản hồi từ một trong ba trạng thái bản ngã. Do đó, mối quan hệ GT giữa hai người được coi là có hiệu quả khi người đưa ra tác nhân nhận lại được sự phản hồi như mong muốn đồng thời đường đi của tác nhân và phản hồi không chồng chéo lên nhau.1 : Miêu tả về giao dịch tâm lý giữa các trạng thái bản ngã trong giao tiếp Tác nhân Phụ mẫu Phụ mẫu Thành niên Thành niên Trẻ em Trẻ em Phản hồi Học thuyết giao tiếp liên nhân cách cho rằng GT là sự trao đổi thông tin về những quan điểm, ý kiến, cảm xúc và ngay cả những “cái tôi” của chính bản thân [24]. Mức độ hiểu biết về bản thân, về người khác trong GT là yếu tố quan trọng giúp GT thành công và được minh họa bằng bốn khu vực: Biểu đồ 1.2: Cửa sổ Johary (Ít) Phản hồi (Nhiều) Biết Không biết (Ít) I II Người khác nhận Biểu Biết Khu vực mở Khu vực mù biết được hiện III IV Không Người khác không (Nhiều) biết Khu vực chính Khu vực không nhận biết được diện nhận biết được Tự nhận biết Không tự nhận mình biết mình Thông qua trao đổi thông tin với nhau các cá nhân trong GT mới có thể hiểu biết về bản thân mình và người khác. Điều này được xây dựng trên cơ sở lòng tin trong GT giữa các chủ thể.
Học thuyết giao tiếp của Jurgen Ruesch nhấn mạnh những khó khăn trong GT tập trung ở những gì cá nhân suy nghĩ mà không tập trung ở những gì cá nhân nói hay viết. Công việc của GT là xóa đi khoảng cách trong suy nghĩ giữa người này và người khác trong việc dùng ngôn ngữ. Các yếu tố trong GT như hoàn cảnh xã 14 hội, vai trò, vị trí, những nguyên tắc và luật lệ, những thông điệp có tầm quan trọng giúp chủ thể hiểu được tác động của xã hội và ý định của người khác trong GT. [24] Thuyết X, thuyết Y và thuyết Z nghiên cứu vấn đề GT trong quản lý.
Thuyết X và thuyết Y do Douglas Mc Gregor đưa ra là hai hệ thống giả thuyết về bản chất con người. Công tác quản lý phải bắt đầu từ câu hỏi là các nhà quản lý có thể nhìn nhận bản thân họ như thế nào trong mối liên hệ với người khác để có cách quản lý hiệu quả. Thuyết Z do Sven Lung Stendt chủ trương giảm mức tối thiểu sự chỉ huy trong quản lý nhằm tạo tính tự lập, tự chủ của người dưới quyền giúp họ thi thố sáng kiến, tính sáng tạo và chịu trách nhiệm. Quan điểm của thuyết này chủ yếu dựa trên niềm tin và sự tinh tế trong quan hệ GT trong quá trình quản lý.
[24] Học thuyết giao tiếp xã hội nhấn mạnh vai trò của các năng lực GT, năng lực và cái tôi của cá nhân trong mối quan hệ giữa xã hội và cá nhân trong quá trình xã hội hóa - quá trình hình thành cá thể người với tư cách là một cơ cấu sinh học mang tính người thích nghi với cuộc sống xã hội. Qua đó, hấp thụ và phát triển những năng lực người đặc trưng trưởng thành như một nhân cách. [19] Ở Việt Nam, nhiều tác giả với những nghiên cứu các khía cạnh khác nhau về bản chất của GT, vai trò, vị trí của GT trong sự hình thành nhân cách như “Các Mác và phạm trù giao tiếp” (1963) của Đỗ Long, “Giao tiếp, tâm lý, nhân cách” (1981), “Giao tiếp và sự phát triển nhân cách của trẻ” (1981), “Bàn về phạm trù giao tiếp” (1981) của Bùi Văn Huệ, “Nhập môn khoa học giao tiếp” (2006) của Nguyễn Sinh Huy, Trần Trọng Thủy. Hiện nay, GT cũng là một nội dung quan trọng được giảng dạy trong các trường.
Trong “Giáo trình tâm lý học xã hội - những vấn đề lý luận” của Mai Thanh Thế, “Giáo trình giao tiếp sư phạm” (2002) của Lê Thanh Hùng (Đại học An Giang), “ Khoa học giao tiếp” (2002) của Nguyễn Ngọc Lâm (Đại học mở Tp HCM), “Ứng xử sư phạm” của Trịnh Trúc Lâm (2006),… đã cung cấp các nội dung như khái niệm GT, chức năng, vai trò của GT, phong cách GT, hệ thống GT,… cũng như nguyên tắc, quy trình ứng xử và các tình huống ứng xử trong GT sư phạm cung cấp cái nhìn hệ thống về các vấn đề GT và GT sư phạm. Khoa Tâm lý giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng có nhiều công trình nghiên cứu về GT. Nghiên cứu về GT sư phạm có các tài liệu như “Đặc điểm giao tiếp sư phạm” (1985) của tác giả Trần Trọng Thủy, “Giao tiếp và ứng xử sư 15 phạm” (1992) của tác giả Ngô Công Hoàn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn trong GT sư phạm. Đây cũng là cơ sở quan trọng giúp chúng tôi định hướng cho đề tài trong nghiên cứu KNGT của học viên trường TCCSND II.
Ngoài ra, còn một số nghiên cứu như “Đặc điểm của giao tiếp của người Cảnh sát khu vực” (1998) của tác giả Hoàng Văn Học, “Giao tiếp và sự hình thành nhân cách thiếu niên” (1999) của tác giả Đào Thị Oanh cũng đã cung cấp một vấn đề về lý luận và thực tiễn về GT và nhân cách của lứa tuổi thiếu niên cũng như các đặc điểm GT của người Cảnh sát khu vực. Từ đó góp phần giúp đề tài hình thành các vấn đề lý luận về đặc điểm GT của học viên trường TCCSND II. Bên cạnh đó, trong các nghiên cứu về GT của một số tác giả được đăng trên tạp chí khoa học chuyên nghành có thể kể đến như: Đề tài “Một số đặc điểm giao tiếp của học viên tham gia các lớp đào tạo giáo viên khoa học xã hội nhân văn quân sự cấp phân đội” (tạp chí Tâm lý học số 12- 2006) của tác giả Trương Quang Học (Học viện Chính trị quân sự) nghiên cứu các đặc điểm GT sư phạm của học viên tham gia các lớp đào tạo giáo viên khoa học xã hội nhân văn quân sự cấp phân đội tại Học viện Chính trị quân sự đã cung cấp một vấn đề lý luận về đặc điểm GT của học viên quân sự giúp chúng tôi có những định hướng nhất định trong nghiên cứu lý luận về GT của học viên trường TCCSND II.