Luận án thao tác tư duy trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Thái - Đoàn Anh Chung

Nghiên cứu luận án tiến sĩ về quá trình phát triển thao tác tư duy của trẻ em 5-6 tuổi dân tộc Thái tại tỉnh Sơn La. Phân tích đặc điểm tâm lý và phương pháp

Chuyên ngành

Tâm lí học

Tác giả

Đoàn Anh Chung

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

221
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thao tác tư duy trẻ 5 6 tuổi dân tộc Thái Sơn La

Nghiên cứu thao tác tư duy của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Thái tỉnh Sơn La là hướng đi mới trong tâm lý học phát triển Việt Nam. Luận án tiến sĩ của Đoàn Anh Chung (2018) thuộc chuyên ngành Tâm lý học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Kế Hào và PGS. Lê Minh Nguyệt. Công trình này đặt mục tiêu tìm hiểu thực trạng và mức độ phát triển thao tác tư duy ở trẻ mẫu giáo lớn trong cộng đồng dân tộc thiểu số. Sơn La là tỉnh miền núi phía Bắc, nơi tập trung đông đồng bào Thái sinh sống. Trẻ em nơi đây chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ, phong tục và điều kiện sống đặc thù. Nghiên cứu vận dụng lý thuyết của Piaget về các giai đoạn phát triển tư duy. Kết quả mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc. Công trình góp phần bổ sung nguồn tài liệu quý về tâm lý học dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu đặt nền tảng cho các giải pháp giáo dục phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ vùng cao.

1.1. Cơ sở lý luận về thao tác tư duy ở trẻ mầm non

Thao tác tư duy là cách thức bộ não xử lý thông tin, phân tích và tổng hợp để giải quyết vấn đề. Ở trẻ 5-6 tuổi, tư duy chuyển dần từ trực quan hình ảnh sang tư duy logic sơ đẳng. Piaget gọi đây là giai đoạn tiền thao tác. Trẻ bắt đầu biết phân loại, so sánh và sắp xếp các đối tượng theo quy tắc đơn giản. Các nhà tâm lý học hoạt động như Vygotsky nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ và tương tác xã hội. Hồ Ngọc Đại, Nguyễn Kế Hào cũng nghiên cứu sâu về sự phát triển trí tuệ trẻ em Việt Nam. Lý thuyết này là nền tảng để xây dựng phương pháp đánh giá thao tác tư duy của trẻ dân tộc Thái.

1.2. Bối cảnh nghiên cứu tại tỉnh Sơn La

Sơn La nằm ở vùng Tây Bắc, có hơn 60% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là dân tộc Thái. Hệ thống giáo dục mầm non ở đây đang được mở rộng nhưng còn nhiều hạn chế về cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên. Trẻ em Thái tiếp xúc song ngữ từ nhỏ gồm tiếng Thái và tiếng Kinh. Điều này tạo ra đặc điểm nhận thức riêng biệt so với trẻ đồng bằng. Các trường mầm non như Chiềng Lề, Hua La, Tô Hiệu là địa điểm thu thập dữ liệu. Nghiên cứu nắm bắt thực trạng để từ đó đề xuất giải pháp giáo dục thích hợp.

II. Phân tích mức độ thao tác tư duy của trẻ 5 6 tuổi dân tộc Thái

Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ phát triển thao tác tư duy của trẻ 5-6 tuổi dân tộc Thái tỉnh Sơn La có những điểm riêng biệt. Trẻ thể hiện khả năng phân loại, so sánh và sắp xếp ở mức cơ bản. Tuy nhiên, tốc độ phát triển chậm hơn so với trẻ cùng tuổi ở thành thị. Nguyên nhân chính đến từ môi trường ngôn ngữ, điều kiện kinh tế và phương pháp giáo dục. Ngôn ngữ mẹ đẻ tiếng Thái ảnh hưởng trực tiếp đến cách trẻ biểu đạt tư duy. Trẻ gặp khó khăn khi chuyển đổi giữa hai hệ thống ngôn ngữ. Các thao tác tư duy cụ thể gồm: thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa và khái quát hóa. Mỗi thao tác có mức độ phát triển khác nhau tùy thuộc vào trải nghiệm học tập. Thao tác so sánh phát triển sớm hơn thao tác trừu tượng hóa. Điều này phù hợp với lý thuyết về các giai đoạn nhận thức của Piaget. Dữ liệu thu thập qua bài kiểm tra thực nghiệm tại nhiều trường mầm non.

2.1. Đặc điểm tư duy trực quan hình ảnh ở trẻ dân tộc Thái

Trẻ 5-6 tuổi dân tộc Thái chủ yếu tư duy theo hình thức trực quan hình ảnh. Trẻ nhận biết đối tượng dựa vào hình dáng, màu sắc và vị trí không gian. Khi giải quyết bài toán phân loại, trẻ thường dựa vào đặc điểm bên ngoài thay vì bản chất. Ví dụ trẻ nhóm các vật có cùng màu sắc thay vì cùng công dụng. Môi trường tự nhiên phong phú ở Sơn La giúp trẻ phát triển khả năng quan sát tốt. Tuy nhiên, trẻ thiếu trải nghiệm với đồ chơi giáo dục và học liệu đa dạng. Sự hạn chế này làm chậm quá trình chuyển từ tư duy trực quan sang tư duy logic. Giáo viên cần sử dụng nhiều hình ảnh trực quan từ đời sống hàng ngày của trẻ.

2.2. Yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thao tác tư duy

Nhiều yếu tố tác động đến thao tác tư duy của trẻ dân tộc Thái. Thứ nhất là yếu tố ngôn ngữ song ngữ Thái-Kinh. Trẻ phải xử lý thông tin qua hai hệ thống ngôn ngữ khác nhau. Thứ hai là điều kiện kinh tế gia đình ảnh hưởng đến cơ hội tiếp cận học liệu. Thứ ba là trình độ và phương pháp sư phạm của giáo viên mầm non. Thứ tư là văn hóa gia đình và cộng đồng trong việc nuôi dạy trẻ. Gia đình Thái truyền thống ít tạo cơ hội cho trẻ tham gia hoạt động tư duy có chủ đích. Yếu tố cuối cùng là chương trình giáo dục chưa phù hợp với đặc điểm dân tộc. Cần xem xét tổng thể các yếu tố để xây dựng giải pháp toàn diện.

III. Phương pháp phát triển thao tác tư duy cho trẻ 5 6 tuổi dân tộc Thái

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất nhiều phương pháp phát triển thao tác tư duy cho trẻ 5-6 tuổi dân tộc Thái tỉnh Sơn La. Phương pháp đầu tiên là tích hợp ngôn ngữ song ngữ vào hoạt động giáo dục. Giáo viên sử dụng cả tiếng Thái và tiếng Kinh để giúp trẻ tiếp cận khái niệm mới. Phương pháp thứ hai là sử dụng học liệu gần gũi với đời sống dân tộc Thái. Đồ chơi từ tre nứa, tranh vẽ cảnh làng bản giúp trẻ tư duy tốt hơn. Phương pháp thứ ba là tổ chức trò chơi tư duy có chủ đích. Các trò chơi phân loại, so sánh, ghép hình được thiết kế phù hợp với văn hóa địa phương. Phương pháp thứ tư là tăng cường tương tác giữa giáo viên và trẻ qua hoạt động nhóm. Vygotsky chỉ ra rằng trẻ phát triển tư duy tốt nhất trong vùng phát triển gần. Giáo viên đóng vai trò hỗ trợ, đặt câu hỏi gợi mở thay vì cung cấp đáp án. Cuối cùng, cần bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non vùng dân tộc thiểu số.

3.1. Thiết kế hoạt động giáo dục phù hợp với văn hóa Thái

Hoạt động giáo dục cần bám vào đời sống văn hóa dân tộc Thái. Trẻ được tham gia các trò chơi dân gian có tính tư duy cao. Ví dụ như trò chơi đoán hình, ghép tranh theo chủ đề lễ hội, chợ phiên. Giáo viên thiết kế bài học dựa trên câu chuyện cổ tích Thái để kích thích tư duy. Hoạt động ngoài trời tại khuôn viên trường giúp trẻ quan sát và phân loại thực vật. Sử dụng vật liệu tự nhiên như lá, đá, hạt để tạo học liệu tư duy. Cách tiếp cận này vừa bảo tồn văn hóa vừa phát triển nhận thức cho trẻ hiệu quả.

3.2. Bồi dưỡng năng lực giáo viên vùng dân tộc thiểu số

Giáo viên mầm non vùng dân tộc thiểu số cần được đào tạo chuyên sâu về tâm lý phát triển trẻ em. Khóa tập huấn nên tập trung vào cách nhận diện mức độ tư duy của từng trẻ. Giáo viên học cách đặt câu hỏi gợi mở để kích thích thao tác tư duy cao hơn. Kỹ năng sử dụng học liệu địa phương cũng cần được hướng dẫn cụ thể. Giáo viên cần hiểu rõ đặc điểm song ngữ để hỗ trợ trẻ hiệu quả. Việc xây dựng mạng lưới chia sẻ kinh nghiệm giữa các trường trong tỉnh rất quan trọng. Chương trình bồi dưỡng nên kết hợp lý thuyết với thực hành tại lớp học thực tế.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu thao tác tư duy trẻ dân tộc Thái

Luận án tiến sĩ của Đoàn Anh Chung đã hoàn thành mục tiêu nghiên cứu thao tác tư duy của trẻ 5-6 tuổi người dân tộc Thái tỉnh Sơn La. Kết quả cho thấy trẻ có tiềm năng phát triển tư duy tốt nếu được giáo dục đúng cách. Mức độ thao tác tư duy của trẻ còn thấp hơn tiêu chuẩn chung do nhiều yếu tố khách quan. Ngôn ngữ song ngữ vừa là thách thức vừa là lợi thế cho sự phát triển nhận thức. Các phương pháp đề xuất trong luận án có tính ứng dụng thực tiễn cao. Giáo viên có thể áp dụng ngay vào chương trình giáo dục mầm non hiện hành. Nghiên cứu mở ra hướng tiếp cận mới trong giáo dục dân tộc thiểu số. Cần có thêm nhiều công trình nghiên cứu quy mô lớn hơn ở các tỉnh Tây Bắc. Ứng dụng của luận án không chỉ giới hạn trong lĩnh vực giáo dục. Kết quả còn có ý nghĩa với chính sách phát triển con người vùng dân tộc thiểu số. Đây là đóng góp quan trọng cho kho tàng tri thức tâm lý học Việt Nam.

4.1. Ý nghĩa khoa học của luận án tiến sĩ

Luận án bổ sung kiến thức mới về tâm lý học phát triển trẻ em dân tộc thiểu số. Kết quả nghiên cứu cung cấp dữ liệu thực nghiệm đáng tin cậy về thao tác tư duy. Phương pháp đánh giá được xây dựng phù hợp với đặc điểm văn hóa Thái. Công trình đóng góp vào hệ thống lý thuyết về phát triển tư duy trẻ em Việt Nam. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên hệ giữa ngôn ngữ và tư duy ở trẻ song ngữ. Đây là cơ sở để các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu sâu hơn trong tương lai.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn đối với giáo dục mầm non Sơn La

Kết quả nghiên cứu giúp Sở Giáo dục Sơn La điều chỉnh chương trình mầm non. Giáo viên có bộ công cụ đánh giá thao tác tư duy phù hợp với trẻ dân tộc Thái. Các phương pháp giáo dục đề xuất dễ áp dụng trong điều kiện thực tế. Phụ huynh được hướng cách nuôi dạy con phát triển tư duy tại nhà. Nhà trường có cơ sở để xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân hóa cho từng trẻ. Ủy ban nhân dân tỉnh có thêm căn cứ để đầu tư cho giáo dục mầm non vùng dân tộc thiểu số.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ thao tác tư duy của trẻ 5 6 tuổi của người dân tộc thái tỉnh sơn la

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THAO T C TƢ DUY CỦA TRẺ 5 - 6 TUỔI 1. Tổng qu n nghiên cứu vấn đề Vấn đề hình thành và phát triển tƣ duy đƣợc rất nhiều nhà tâm lí học quan tâm và nghiên cứu ở những khía cạnh, góc độ khác nhau. Kết quả đã thu đƣợc nhiều thành tựu lớn lao vả về mặt lí luận và phƣơng pháp. Chúng tôi tiếp cận các công trình nghiên cứu tƣ duy theo hai hƣớng: Các công trình nghiên cứu tƣ duy và thao thác tƣ duy của trẻ 5 – 6 tuổi trên thế giới và ở Việt Nam.

Các công trình nghiên cứu về tư duy và thao tác tư duy của trẻ 5 – 6 tuổi trên thế giới 1. Các công trình nghiên cứu về tư duy Vấn đề tƣ duy đƣợc nghiên cứu từ sớm trên nhiều phƣơng diện khác nhau trong đó chủ yếu là phƣơng diện triết học và tâm lý học. Trong lĩnh vực triết học, hoạt động nhận thức nói chung và tƣ duy nói riêng đã đƣợc các nhà triết học cổ đại đã nghiên cứu từ rất sớm, tiêu biểu nhƣ: Hêraclit, Đêmôcrit, Platon hay Arixtốt, G. Trong lĩnh vực tâm lý học, tƣ duy đƣợc hầu hết các nhà tâm lý đề cập đến ở nhiều góc độ khác nhau nhƣ: Nghiên cứu dƣới góc độ bản chất của tƣ duy; nghiên cứu cấu trúc của tƣ duy; nghiên cứu ứng dụng tƣ duy trong mọi mặt đời sống.

Dƣới đây chúng tôi giới thiệu khái quát những hƣớng nghiên cứu tƣ duy theo những vấn đề cơ bản nêu trên. Hướng nghiên cứu bản chất tư duy Nghiên cứu về bản chất của tƣ duy có thể kể ra rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả với các lý thuyết khác nhau nhƣ: V.Wallon, Edward de Bono [25], X.Vƣgốtxki [50], … Những công trình nghiên cứu trên đã giải quyết những vấn đề về bản chất của tƣ duy theo các cách tiếp cận khác nhau.Watson tiếp cận theo tâm 9 lí học hành vi cho rằng, tƣ duy đồng nhất với nói thầm các âm thanh của ngôn ngữ và những phản ứng phi ngôn ngữ [3]; Theo những nhà phân tâm học thì tƣ duy đƣợc coi là động lực vô thức [3]; những nhà tâm lý học Ghestan lại coi tƣ duy là một quá trình biến đổi từ tình huống có vấn đề thành tình huống không có vấn đề [24]. Những nhà tâm lý học theo trƣờng phái Vuxbua đại diện là O. Denxơ đã đánh dấu bƣớc tiến lớn trong nghiên cứu tƣ duy khi cho rằng: tƣ duy là một hành động bên trong, là sự hiểu các quan hệ bản chất của tình huống có vấn đề, là một quá trình vận động của các thao tác trí tuệ nhƣ: phân tích, tổng hợp, trừu tƣợng hóa,… Tuy nhiên, vấn đề bản chất xã hội và logic tâm lí của tƣ duy vẫn chƣa đƣợc các nhà tâm lý học theo trƣờng phái này quan tâm giải quyết [3].

Nhà tâm lý học J.Piaget cho rằng tƣ duy có bản chất thao tác [97]. Đây đƣợc coi là phát hiện quan trọng trong nghiên cứu về tƣ duy và là nghiên cứu ảnh hƣởng đến các nghiên cứu về sau này của của Piaget. Từ đây ông đã đƣa ra hàng loạt các công trình nghiên cứu, những thực nghiệm để tìm ra hai chỉ số quan trọng đánh dấu sự xuất hiện thao tác tƣ duy đó là tính bảo toàn và đảo ngƣợc ở trẻ em cũng nhƣ thời gian xuất hiện chúng. Tuy nhiên, cũng giống nhƣ các nhà tâm lý học Vuxbua, ông bỏ qua sự ảnh hƣởng của yếu tố cảm xúc, yếu tố văn hóa đến sự phát triển tƣ duy.

Để bổ sung cho các lí thuyết trên, L.Vƣgốtxki đã cho ra đời học thuyết lịch sử - văn cho rằng tƣ duy là một quá trình vận động, phát triển và tiến hóa trong những điều kiện văn hóa – xã hội nhất định. Cùng quan điểm với J.Galperin cho rằng bản chất của tƣ duy chính là thao tác tƣ duy [32]. Tuy có sự khác nhau về quan điểm thao tác của J.Galperin nhƣng hai ông đều thống nhất với nhau về quá trình hình thành thao tác là quá trình bắt đầu từ hành động thực tiễn, bên ngoài sau đó chuyển vào trong. Vì vậy việc nghiên cứu mức độ và biện pháp phát triển của các thao tác tƣ duy từ hành động thực tiễn có ý nghĩa to lớn trong việc tìm hiểu và phát triển tƣ duy cho học sinh.

Trong các công trình nghiên cứu của N.Lâytex [57] đã chỉ ra cái bản chất nhất trong tƣ duy con ngƣời là ở chỗ nó cho phép phản ánh những mối liên hệ, quan 10 hệ của sự vật hiện tƣợng trong thế giới xung quanh. Tác giả cũng cho rằng năng lực tƣ duy biểu thị ở khả năng nhận thức lý luận và thực hành của con ngƣời. Rubinstêin cho rằng: “Qúa trình tƣ duy – trƣớc hết là sự phân tích và tổng hợp., từ đó trừu tƣợng hoá và khái quát hoá. Các quy luật của quá trình này trong mối quan hệ tƣơng hỗ của chúng với nhau thực chất là các quy luật cơ bản bên trong của tƣ duy.

Ông khẳng định hoạt động chính là cơ sở cho toàn bộ tƣ duy và hình thành các thao tác tƣ duy cho trẻ cần phải thông qua hoạt động. Hướng nghiên cứu cấu trúc của tư duy Không chỉ nghiên cứu bản chất mà các nhà tâm lí học còn nghiên cứu thành phần cấu trúc của tƣ duy. Nghiên cứu theo hƣớng này có các nhà tâm lý học nhƣ: N. Canbanova- Menle cho rằng tƣ duy gồm hai thành phần: tri thức về đối tƣợng (cái đƣợc phản ánh) và các thao tác tƣ duy (phƣơng thức phản ánh).

Trong đó, tri thức về đối tƣợng phản ánh đƣợc coi là nguyên liệu, là phƣơng tiện để tiến hành các thao tác tƣ duy. Tuy nhiên, tác giả chƣa đề cập đến thao tác vật chất – là một trong những thao tác quan trọng trong việc chuyển tƣ duy từ bình diện bên ngoài và bình diện bên trong.Guilford đã đƣa ra mô hình cấu trúc ba thành phần: các thao tác tƣ duy, nội dung và sản phẩm của tƣ duy. Mặt thao tác gồm các yếu tố, khả năng nhận thức: nhận dạng các sự kiện; trí nhớ; tƣ duy hội tụ (tƣ duy tái tạo); tƣ duy phân kì (tƣ duy sáng tạo); khả năng đánh giá. Mặt nội dung phản ánh: hình ảnh; biểu tƣợng; ý nghĩa; hành vi.

Mặt sản phẩm: đơn vị, các lớp, các mối quan hệ, hệ thống, sự chuyển hóa, ý nghĩa. Không chỉ đƣa ra cấu trúc của tƣ duy, ông còn đƣa ra những bộ trắc nghiệm để đo các thành phần trong cấu trúc đó. Trên cơ sở tổng hợp 3 quan niệm về tƣ duy: tƣ duy là năng lực cá nhân; tƣ duy là thủ thuật tƣ duy, tƣ duy là trình độ chuyên môn.Perkins cho rằng tƣ duy bao gồm cả ba thành phần nêu trên. Vì vậy, tác giả đã đƣa ra giải pháp cho việc dạy tƣ duy cho học sinh bao gồm: vận dụng trí tuệ, lựa chọn phƣơng pháp đúng và dạy 11 thủ thuật tƣ duy.

Việc đƣa ra cấu trúc tƣ duy theo phƣơng pháp phân tích đơn vị theo cách của J.Perkins thuận lợi cho việc đo đạc, lƣợng hóa các yếu tố đó. Tuy nhiên, khó xác định đƣợc ảnh hƣởng của yếu tố xã hội với sự phát triển tƣ duy và khó xác định đƣợc cơ chế hình thành của tƣ duy ở các giai đoạn lứa tuổi khác nhau.Vƣgotxki cho rằng tƣ duy bao gồm tƣ duy bậc thấp và tƣ duy bậc cao. Tƣ duy bậc thấp có cả ở động vật và trẻ em có cấu trúc hai thành phần đó là: các bài toán tƣ duy và các phản ứng của cơ thể. Tƣ duy bậc cao có thêm sự tham gia của ngôn ngữ và các công cụ tâm lý trong các thao tác tƣ duy.

Tác giả cũng khẳng định bản chất xã hội của tâm lý, từ đó đã mở ra hƣớng nghiên cứu nội dung văn hoá - xã hội của tƣ duy. Nhiều công trình nghiên cứu sau này đã chứng minh, trẻ em trong các dân tộc khác nhau, trong các nền văn hoá khác nhau thƣờng có các kiểu tƣ duy khác nhau. Mặc dù đƣa ra nhiều cấu trúc khác nhau nhƣng những công trình nghiên cứu trên đã vạch ra đƣợc các thành phần cơ bản của tƣ duy, từ đó làm sáng tỏ hơn bản chất của tƣ duy và các cấu trúc có những thành phần khác biệt nhƣng hầu hết các nhà tâm lí học đều thừa nhận một thành phần cốt lõi cơ bản trong cấu trúc về tƣ duy đó chính là các thao tác tƣ duy. Vì vậy, hƣớng nghiên cứu phổ biến, chiếm vị trí trung tâm trong các nghiên cứu về tƣ duy đó là nghiên cứu các thao tác tƣ duy.

Hướng nghiên cứu ứng dụng tư duy trong đời sống Hƣớng nghiên cứu này hiện nay đang đƣợc áp dụng rộng rãi và trở thành xu hƣớng mới, phổ biến. Có rất nhiều cuốn sách ứng dụng tƣ duy trong mọi mặt của đời sống từ kinh doanh, quản lý, dạy học. Từ “tƣ duy” đƣợc dùng không ít trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng, trong các lĩnh vực nào ngƣời ta cũng nhắc đến tƣ duy, chẳng hạn nhƣ: “cần đổi mới tƣ duy kinh tế”, “cần đổi mới tƣ duy trong làm việc”, “cần có tƣ duy độc lập”, “cần có tƣ duy sáng tạo”, “cần khắc phục tƣ duy trì trệ”, “làm chủ tƣ duy thay đổi vận mệnh”, “tƣ duy tích cực” “bạn chính là những gì bạn nghĩ”…. Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học theo hƣớng này nhƣ: Tác giả Kenichi Ohmae của Nhật với tác phẩm Tư duy của chiến lược gia đã 12 đƣa ra những kỹ năng để tƣ duy đạt đƣợc hiệu quả trong kinh doanh [45].

Tác giả Ken Baum đã cho ra đời cuốn: "Tư duy kinh doanh vượt trội". đƣa ra một hệ thống những phƣơng pháp rèn luyện nhằm thay đổi lối mòn tƣ duy giúp tăng hiệu quả trong kinh doanh [44]. Tác giả Tony Buzan cũng đã đƣa ra một công cụ hữu ích để tƣ duy ứng dụng nhiều trong cuộc sống và học tập đó là bản đồ tƣ duy. Hiện nay trong nhiều nhà trƣờng, nhiều cơ quan đã sử dụng phƣơng pháp này để dạy học và làm việc hiệu quả [78] Nhƣ vậy, Tƣ duy đƣợc các nhà tâm lí học nghiên cứu ở rất nhiều cách tiếp cận, nhiều phƣơng diện khác nhau.

Các nghiên cứu đó dù ở khía cạnh nào thì các nhà tâm lí cũng đều thừa nhận một trong những yếu tố cốt lõi nhất của tƣ duy, giúp tƣ duy có thể vận hành đƣợc đó là thao tác tƣ duy. Các nghiên cứu về thao tác tư duy Có rất nhiều công trình nghiên cứu về thao tác tƣ duy. Dƣới đây là một số hƣớng nghiên cứu chính về thao tác tƣ duy.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ