CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG MỀM CỦA SINH VIÊN ĐÁP ỨNG NHU CẦU TUYỂN DỤNG 1. Cơ sở lý luận về kỹ năng mềm của sinh viên 1. Các khái niệm cơ bản 1. Kỹ năng Nhóm tác giả Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành trong “Tâm lý học đại cương” cho rằng “Kỹ năng, kỹ xảo là loại hành động tự động hóa nhờ luyện tập, rèn luyện tạo nên.
Nó mang tính chất kỹ thuật được đánh giá về mặt thao tác, ít gắn với tình huống và ít bền vững nếu không thường xuyên tập luyện củng cố. Con đường hình thành kỹ năng là tập luyện có mục đích và hệ thống” (tr 184). Tổng kết của PGS.TS Nguyễn Thanh Bình trong nghiên cứu về Giáo dục Kĩ năng của Bộ giáo dục và Đào tạo theo dự án đào tạo giáo viên THCS ( LOAN N1718-VIE) đã chỉ ra sự cần thiết phải giáo dục kĩ năng xét dưới góc độ giáo dục đó là: Thứ nhất, kĩ năng của người học là một biểu hiện của chất lượng giáo dục. Cho nên trong mục tiêu 6 của kế hoạch hành động Dakar về giáo dục cho mọi người, kĩ năng được coi là một khía cạnh của chất lượng giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục cần tính đến những tiêu chí đánh giá kỹ năng của người học.
Như vậy tiến hành giáo dục Kỹ năng để nâng cao chất lượng giáo dục. Thứ hai, giáo dục kĩ năng là thực hiện quan điểm hướng vào người học, một mặt đáp ứng nhu cầu của người học tạo ra năng lực để đáp ứng những thách thức của cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân. Mặt khác, thực hiện giáo dục kĩ năng thông qua những phương pháp hướng đến người học (lấy người học làm trung tâm) và phương pháp dạy học 11 tương tác, cùng tham gia, đề cao vai trò chủ động, tự giác của người học và vai trò chủ đạo của người dạy sẽ có những tác động tích cực đối với những mối quan hệ người dạy và người học, người học với người học. Đồng thời, người học cảm thấy họ được tham gia vào giải quyết các vấn đề có liên quan đến cuộc sống của bản thân, họ sẽ thích thú và học tập tích cực hơn.
Như vậy giáo dục kỹ năng cho người học đồng thời thể hiện tính khoa học và tính nhân văn của giáo dục. Thứ ba, giáo dục kỹ năng thúc đẩy sự phát triển bền vững: Giáo dục Kỹ năng dựa trên cách tiếp cận năng lực. Mục tiêu của giáo dục Kỹ năng không dừng ở việc làm thay đổi nhận thức bằng cách cung cấp thông tin, tri thức mà tập trung vào mục tiêu xây dựng hoặc làm thay đổi hành vi theo hướng tích cực, mang tính xây dựng đối với các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Người có Kỹ năng là người có thái độ và hành vi tích cực đối với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, đối với các vấn đề của cuộc sống Trong số 15 nội dung cơ bản về giáo dục vì sự phát triển bền vững đã được UNESCO xác định, có rất nhiều nội dung thống nhất với giáo dục kỹ năng để giải quyết các vấn đề cụ thể như: Quyền con người, hòa bình và an ninh, bình đẳng giới, đa dạng văn hóa và hiểu biết về giao lưu văn hóa, sức khỏe, HIV/AIDS, các nội dung về bảo vệ môi trường, giảm nghèo, tinh thần và trách nhiệm tập thể.Đồng thời, việc hình thành được những kỹ năng cốt lõi như kỹ năng đặt mục tiêu; kỹ năng xác định giá trị; kỹ năng ra quyết định, giải quyết vấn đề; kỹ năng kiên định.sẽ giúp cho mỗi cá nhân có thể định hướng tới cuộc sống lành mạnh phù hợp với các giá trị sống của xã hội, để có những hành vi tích cực trong giải quyết các vấn đề của cuộc sống giúp thúc đẩy phát triển bền vững của cả cá nhân và của tập thể.
Bên cạnh những kỹ năng cốt lõi trên, những kỹ năng chung như tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, thiện chí, suy nghĩ tích cực. còn được áp dụng vào giải quyết các nội dung cụ thể để tạo ra sự phát triển bền vững. 12 Những nguyên tắc đưa kỹ năng vào thực tiễn giáo dục do UNESCO đưa ra để định hướng cho việc triển khai giáo dục Kỹ năng trong thực tiễn gồm: i) Nguyên tắc 1: Quyền được học kỹ năng - Tất cả thế hệ trẻ và người lớn có quyền hưởng lợi từ một nền giáo dục chứa đựng các hợp phần học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người và học để khẳng định mình. Theo đó, mọi chương trình giáo dục nhằm thay đổi hành vi cần bao hàm các thành tố xây dựng kỹ năng nói chung, nhấn mạnh xây dựng các kỹ năng nói riêng.
Các chương trình giáo dục kỹ năng cần phải phù hợp với người học và chú ý đến những nhu cầu khác nhau và phát triển khả năng của họ. Tiếp cận kỹ năng cần phải đạt kết quả về phương diện thay đổi hành vi. Tiếp cận kỹ năng cần sử dụng các dạng khác nhau của phương pháp dạy học cùng tham gia. Các chương trình kỹ năng cần được phối hợp với các điều kiện bổ sung như: có chính sách; được dạy trong môi trường tâm lý xã hội thuận lợi và được gắn kết với các dịch vụ cộng đồng ( như tư vấn, giúp đỡ, hỗ trợ.); ii) Nguyên tắc 2: Phát triển những kỹ năng - giáo dục hướng vào yêu cầu bồi dưỡng năng khiếu, tiềm năng và phát triển cá tính của người học cần phải quan tâm kết hợp các kỹ năng thực hành và các khả năng tâm lý xã hội.
Để đạt được sự đồng thuận và hợp tác giữa các quốc gia thực hiện giáo dục cho mọi người một cách hiệu quả cần phải kết hợp các kỹ năng thực hành và khả năng tâm lý xã hội thông qua tiếp cận kỹ năng. Các khả năng tâm lý xã hội có tác dụng như cầu nối giữa cái mà người ta cần làm và cái mà người ta có thể làm được. Cần nâng cao khả năng của tất cả trẻ em, thanh niên và người lớn thông qua giáo dục Kỹ năng để đạt được sự phát triển người bền vững. Tất cả các chương trình giáo dục nhằm ảnh hưởng đến hành vi cần phải chú trọng các kỹ năng thực hành cũng như là các kỹ năng tâm lý xã hội; 13 iii) Nguyên tắc 3: Đánh giá kỹ năng - Đánh giá chất lượng giáo dục phải bao hàm đánh giá mức độ đạt được các kỹ năng và tác động của Kỹ năng đối với xã hội và cá nhân.
Việc đo tác động của giáo dục kỹ năng cần phải xem chương trình đó có đạt mục tiêu ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ, kỹ năng và hành vi của nhóm hưởng lợi hay không? Giáo dục kỹ năng trước hết phải được đánh giá ở 3 mức độ: Kết quả ngắn hạn - thể hiện ở kết quả hình thành các kỹ năng của người học ( như là biết ra quyết định, biết thể hiện kỹ năng kiên định); Kết quả trung hạn - Thể hiện ở sự thay đổi hay sự lưu giữ được những hành vi hiện tại của người học ( như là giảm sử dụng ma túy, bỏ hút thuốc lá.); Kết quả dài hạn - Đạt được các mục tiêu của chương trình, thay đổi về thực trạng hoặc có những kết quả về mặt xã hội ( như là giảm tỉ lệ nhiễm HIV, hiện tượng mang thai sớm, hiện tượng tai nạn giao thông do bia, rượu) Ngay từ những năm 1960 của thế kỉ 20, tổ chức UNESCO đã vạch rõ ba thành tố của học tập đó là “kiến thức, kỹ năng, thái độ”, trong đó thái độ và kỹ năng đóng vai trò then chốt. Tổ chức này đã đề xuất 4 trụ cột trong việc học của thế kỉ 21 là: “Học để biết (learn to know), học để làm (learn to do), học để chung sống (learn to live toghether), học để tự khẳng định (learn to be)”. Điều này được mô hình hóa như sau: 14 Tiếp cận kỹ năng đã tăng cường năng lực đáp ứng của cá nhân và khả năng tiến triển cùng với nhu cầu và sự thay đổi về yêu cầu của thị trường lao động. Cùng với điều đó, phát triển lòng tự tin và năng lực hành động là một phương diện tất nhiên cuả giáo dục sẽ làm cho cá nhân có thể sử dụng có hiệu quả những công cụ và phương pháp mới.
Để đảm bảo chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục Kỹ năng nói riêng cần phải xem xét đến các yếu tố sau: Tương tác giữa người dạy và người học: Trung tâm của mọi việc trong giáo dục là tương tác giữa người dạy và dạy học. Điều đó có nghĩa là chất lượng được tạo ra trong quá trình tương tác này. Để cho việc thực hiện chương trình dạy kỹ năng có hiệu quả giáo viên cần phải thay đổi cách dạy, phong cách học và sử dụng các dạng khác nhau của phương pháp tương tác để khích lệ sự tham gia. Chương trình và tài liệu dạy học: Tiếp cận kỹ năng thể hiện việc vận dụng vào thực tế cuộc sống những kiến thức, thái độ, kỹ năng và sử dụng các phương pháp dạy học tương tác.
Với ý nghĩa đó, tiếp cận Kỹ năng có thể sử dụng để cải thiện bất cứ một chủ đề nào của chương trình nội dung dạy học như: lịch sử, khoa học, hòa bình, quyền con người, giáo dục công dân, sức khỏe, toán, giáo dục nghề nghiệp và những chủ đề khác. Nội dung giáo dục cần phù hợp với kinh nghiệm, nhu cầu của cả học sinh nam và nữ, cũng như nhu cầu của xã hội. Các chương trình kỹ năng về bất cứ chủ đề nào được coi là hiệu quả thì cần phải đưa ra mô hình thực hành về kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng giải quyết vấn đề/ ra quyết định ( Học để biết), các kỹ năng để tự kiểm soát bản thân, đương đầu với những cú sốc và tình cảm ( Học để tự khẳng định) và các kỹ năng giao tiếp liên nhân cách ( Học để chung sống với mọi người) cũng như các kỹ năng thực hành ( Học để làm) để thực hiện những hành vi mong muốn. Chương trình và tài liệu dạy/ học là những thành tố cốt lõi của giáo dục, nó là một thành phần bổ trợ cho người GV giỏi và người học muốn tìm 15 tòi.
Do đó, điều quan trọng đối với người biên soạn chương trình là phải tính đến cả người dạy và người học khi xây dựng tài liệu sử dụng cách tiếp cận kỹ năng và gắn kết trực tiếp các ví dụ, hình ảnh minh họa với các kinh nghiệm và hứng thú của học sinh.