CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ NHU CẦU GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ 1. Những nghiên cứu về nhu cầu giao tiếp của người dân tái định cư ở nước ngoài Tìm hiểu về NCGT là một lĩnh vực mang tính ứng dụng cao trong hoạt động xã hội nên đã có một số công trình nghiên cứu, tuy nhiên phần lớn các công trình chỉ nghiên cứu chỉ ra các đặc điểm NC, đặc điểm giao tiếp và NCGT. Thực tế hiện nay các công trình ghiên cứu về NCGT của người dân vùng TĐC rất ít và còn sơ sài. Vì thế việc khái quát lịch sử các công trình nghiên cứu về NCGT và NCGT của người dân ở vùng TĐC có một ý nghĩa quan trọng cho việc nghiên cứu đề tài.
Những nghiên cứu về giao tiếp Khi bàn về giao tiếp có rất nhiều nhà khoa học nói chung và nhà tâm lý học nói riêng, nghiên cứu dựa trên nhiều góc độ, nhiều hướng khác nhau. Hướng nghiên cứu coi giao tiếp là quá trình truyền tin. Đại diện là các tác giả: N.Senen(1949), Moles (1971) cho rằng giao tiếp là lý luận về các hệ thống phức hợp tự kiểm soát. Thông tin không chỉ bao gồm ngôn ngữ nói và viết mà còn cả các mã và ký hiệu, giao tiếp là một quá trình phát và nhận tin, trao đổi thông tin diễn ra trực tiếp hoặc gián tiếp.
Các tác giả chỉ tập trung vào quá trình truyền tin, làm đơn giản hóa quá trình giao tiếp (gạt bỏ các yếu tố tâm lý cá nhân, văn hóa, xã hội ra khỏi quá trình giao tiếp…). [1; 8] Hướng nghiên cứu coi giao tiếp là một dạng hoạt động. Đại diện cho hướng nghiên cứu này gồm có nhóm tác giả như: G.IaGalperin…Trong đó nổi bật lên là tác giả A. Ông cho rằng giao tiếp là hoạt động xã hội và được chia thành hai kiểu cơ bản: giao tiếp định hướng – đối tượng và giao tiếp thuần túy.
Quan điểm của ông không có tiêu chí chung trong việc xác định chủ thể và khách thể cho giao tiếp mà phải phân loại giao tiếp để xác định chủ thể và khách thể cho giao tiếp. [1; 7] Hướng nghiên cứu coi giao tiếp là phạm trù tương đối độc lập với hoạt động. Đại diện cho trường phái này là: B. Theo ông giao tiếp là một quá 6 trình đa chiều cùng chủ thể, hoạt động và giao tiếp khác nhau về ý nghĩa xã hội của chúng.
Ông coi giao tiếp là phạm trù tương đối độc lập với hoạt động, ông đã xác định vai trò, đối tượng, động cơ, chiều hướng tác động và kết quả của giao tiếp như là một loại hình hoạt động. Đồng thời ông cũng mở ra lĩnh vực nghiên cứu mới cho giao tiếp đó là tương tác liên nhân cách thông qua giao tiếp. Những nghiên cứu về nhu cầu Tâm lý học hoạt động do L.Vưgôtxki (1896 - 1934) là người đặt nền móng cho tâm lý học hoạt động. Bên cạnh đó có một số nhà tâm lý học đi theo trường phái này như: X.
Tâm lý học hoạt động coi NC là nguồn gốc tính tích cực của con người, tuy nhiên theo các nhà tâm lý học hoạt động NC không phải là xuất phát điểm, nguồn gốc. Các nhà tâm lý học hoạt động nhấn mạnh mối quan hệ giữa hoạt động và NC theo sơ đồ sau: hoạt động – NC – hoạt động. NC con người được tạo ra và luôn thay đổi cả về chất lượng và hình thức phản ánh. Mặc dù NC con người là do hoạt động tạo ra nhưng liên quan hết sức chặt chẽ với động cơ hoạt động.
Khi còn ở trạng thái mang tính chất NC thì chủ thể chưa ý thức được rõ ràng, cụ thể về đối tượng có khả năng thỏa mãn NC. Khi đối tượng NC xuất hiện thì lúc này NC mới có tính đối tượng và chính đối tượng đã có được chức năng thúc đẩy hành vi của cá nhân, đồng thời hướng dẫn con người có các hành vi phù hợp để chiếm lĩnh nó. NC lúc này trở thành động cơ hoạt động. Lêônchiev cho rằng NC của con người rất đa dạng và phong phú, NC không chỉ phụ thuộc các yếu tố chủ quan, các yếu tố khách quan và cả yếu tố môi trường nữa.
Môi trường sống, môi trường văn hóa lịch sử xã hội là những yếu tố ảnh hưởng rất lớn NC và động cơ của con người. Theo ông một trong những yếu tố quan trọng khi nghiên cứu NC là nghiên cứu môi trường bao gồm tự nhiên và xã hội nơi con người sinh sống và hoạt động, đặc biệt cần lưu ý tới đối tượng, các điều kiện, phương tiện thỏa mãn NC với tư cách là thành viên trong xã hội [56]. Tiếp theo trường phái tâm lý học hoạt động có một số tác giả như P.Lômôv ông đã tiếp nối và phát triển quan điểm của X. Ông đã tiếp cận hoạt động thực tiễn từ lĩnh vực Tâm lý học kĩ thuật, Tâm lý học kĩ sư nên Lômôv đề 7 xuất một cấu trúc hoạt động nghiêng về phía chủ thể.
Nên theo ông khi nghiên cứu về NC con người không chỉ quan tâm đến tính đối tượng mà phải xuất phát từ chủ thể. Ông đề xuất hướng tiếp cận mới trong lý thuyết hoạt động đó là hoạt động cùng nhau [55; 98] Khi tìm hiểu về hoạt động và các yếu tố NC của hoạt động giao tiếp của con người L. Vưgôtxki cho rằng hoạt động tâm lý của con người được thực hiện giới hình thức giao lưu bằng ngôn ngữ, dùng những hệ thống tín hiệu và dấu hiệu (đặc biệt là âm thanh) làm vật trung gian (coi như công cụ). Thông qua hoạt động, các chức năng tâm lý, NC, động cơ, nhân cách.
hình thành và phát triển trong quá trình sống [14; 34] Nhìn chung các nhà tâm lí học hoạt động đã chỉ ra được NC là chính thông qua các hoạt động trong xã hội tạo ra. NC mang bản chất xã hội do chính hoạt động lao động, sinh hoạt cộng đồng xã hội tạo ra, chủ thể ý thức được điều này và bị qui định bởi nhiều yếu tố khác. Những nghiên cứu về nhu cầu giao tiếp 1. Những nghiên cứu về nhu cầu giao tiếp theo cách tiếp cận sinh học Tiếp cận theo hướng nghiên cứu này có các nhà nghiên cứu theo trường phái phân tâm học, tiêu biểu như Sigmund Freud, Ernest Dichter, Henry Alexander Murray….
Trong đó Freud thì cho rằng cấu trúc nhân cách của con người có ba thành tố cơ bản có quan hệ thống nhất với nhau, quy định và chi phối lẫn nhau là siêu thức, ý thức, cái “nó” (vô thức). Trong đó cái “nó” là yếu tố nền tảng quyết định xu hướng phát triển của nhân cách trong xã hội. NC của con người gắn liền với các bản năng, xung năng vô thức được quyết định bởi năng lượng “Libido” là thành phần cơ bản của cái “nó”. NC của con người có cội nguồn từ cái “nó” luôn bị kiểm duyệt, chèn ép bởi ý thức và siêu thức.
NC con người không tồn tại thực mà chỉ biểu hiện qua các giấc mơ, mong muốn thầm kín và NCGT của con người theo ông thì cũng chỉ ở mức độ bản năng mà thôi. NC của con người không phải mang tính bản năng, bẩm sinh mà NC con người chỉ nảy sinh trong hoạt động và giao tiếp xã hội bộc lộ thông qua hoạt động. Như vậy khi nghiên cứu về NC Freud đã tiếp cận dưới góc độ sinh học, bẩm sinh mà không quan tâm nhiều đến các yếu tố ngoại cảnh như văn hóa, lịch sử xã hội, yếu tố môi trường xung quanh của cá nhân. Nếu nghiên cứu 8 theo hướng này thì ta thấy rõ các yếu tố hoạt động tạo ra NC và NCGT là không cần thiết.[50] Người tiếp tục nghiên cứu và phát triển lý thuyết của Freud là H.A Murray cũng xây dựng lý thuyết nhân cách trên quan niệm này.
Ông cho rằng cấu trúc của nhân cách con người bao gồm hai loại NC chính là: NC nguyên phát và NC thứ phát. NC nguyên phát là những NC tự nhiên của con người gồm những yếu tố giúp cơ thể sống tồn tại như NC an toàn, NC tránh thất bại, NC phòng vệ, NC tránh bị trừng phạt…NC thứ phát là NC được hình thành trong giao tiếp với người khác để tồn tại và phát triển như một nhân cách, thành viên trong xã hội như: NC quyền lực, NC thành đạt, NC tôn trọng ủng hộ, NC tìm kiếm quan hệ bạn bè…Mặc dù Murray coi nguồn gốc của các NC vẫn là do tiền định bẩm sinh nhưng ông đã có bước tiến bộ hơn Freud là đã chú ý tới các yếu tố xã hội, văn hóa trong sự phát triển NC của con người. Ông đã đề cao các mối quan hệ trong xã hội, NCGT được xem là một yếu tố thúc đẩy hoàn thiện nhân cách con người. [56] John Atkinson và David McClelland hai ông đã nghiên cứu về NC, trong đó đã cho ra đời cuốn sách Động cơ thành đạt.
Hai tác giả hiểu động cơ thành đạt và NC thành đạt là hai phạm trù đồng nhất. Tác giả đã định nghĩa và phân loại NC thành đạt và kế thừa nghiên cứu của H. Bên cạnh đó riêng McClelland còn đưa ra hệ thống NC có liên quan chặt chẽ với nhau. Đó là: NC quyền lực, NC liên minh (hợp tác, giao tiếp) và NC thành đạt.
Theo ông người có NC cao về quyền lực sẽ phải quan tâm nhiều đến việc tạo dựng sự ảnh hưởng đến người khác. Cần phải xây dựng tốt mối quan hệ với những người xung quanh, đáp ứng tốt các NC cá nhân của họ. Những người có NC liên minh cao thường tìm thấy niềm vui khi được yêu mến và muốn tránh tổn thương khi bị tách khỏi một nhóm xã hội. Họ thích tạo dựng mối quan hệ thân thiện, muốn có tình cảm thân thiết, dễ cảm thông và sẵn sàng giúp đỡ người khác khi họ gặp khó khăn [63].
Ông đã chỉ ra được NCGT đóng một vai trò quan trọng đối với sự thành đạt của con người, con người không thể thiếu được sự hợp tác giao lưu trong xã hội. Tuy nhiên tác giả tiếp cận dưới góc độ sinh vật nên đã đề cao quá mức vai trò của NC bẩm sinh hạ thấp các yếu tố môi trường, văn hóa xã hội của cá nhân. 9 Một trong những nhà tâm lý học nổi tiếng hiện nay theo xu hướng Freud là Erich Fromm (1901). Ông là người muốn pha trộn phân tâm học với học thuyết xã hội của K.
Mark vào nhau và xây dựng nên lý thuyết “chủ nghĩa nhân đạo mới”. Ông cho rằng cơ chế tự nhiên và xã hội trong con người là vô thức, đó là cái phi lí, hạt nhân của nhân cách. Nó biểu hiện sự mong muốn vươn tới cái hài hòa toàn diện của con người.