TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC ===00=== CHỦ ĐỀ THẢO LUẬN MÔN TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG Đề tài: Tìm hiểu về tính cách dựa trên hai bộ trắc nghiệm tính cách MBTI và DISC. Nhóm thực hiện: Nhóm 1 1. Nguyễn Thị Bích Trâm 11203972 2. Bùi Thị Ngọc Ánh 11204577 3.
Nguyễn Thị Bích Ngọc 11202863 4. Soukphansa Sayta 11207818 Khóa: 62. Lớp TC: Tâm lý học lao động_01 Giảng viên: Th.S Phạm Thị Thanh Nhàn HÀ NỘI – 11/2021 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN. Bộ môn Tâm lý học lao động.
Tổng quan lý thuyết về tính cách 2 1. Định nghĩa về tính cách 2 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính cách 2 3. Phương pháp trắc nghiệm tâm lý 3 II.
Giới thiệu và phân tích hai bộ trắc nghiệm tính cách MBTI và DISC 4 1. Lịch sử hình thành và mục đích của bài test trắc nghiệm tính cách 4 1. Bộ trắc nghiệm tính cách MBTI 4 1. Bộ trắc nghiệm tính cách DISC 5 2.
So sánh sự khác biệt của hai bộ tính cách 6 III. Các nhóm tính cách trong hai bộ trắc nghiệm tính cách MBTI và DISC 8 1. Bộ trắc nghiệm tính cách MBTI 8 2. Bộ trắc nghiệm tính cách DISC 33 IV.
Ứng dụng của hai bộ trắc nghiệm tính cách MBTI và DISC 41 1. Ứng dụng của bộ trắc nghiệm tính cách MBTI 41 1. Ứng dụng đối với doanh nghiệp 41 1. Ứng dụng để tìm đam mê nghề nghiệp 42 2.
Ứng dụng của bộ trắc nghiệm tính cách DISC 43 2. Ứng dụng đối với doanh nghiệp 43 2. Ứng dụng trong cuộc sống 45 V. Case study 47 VI.
Kết luận 49 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN. Bộ môn Tâm lý học lao động. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TÍNH CÁCH 1. Định nghĩa về tính cách - Là một trong bốn nội dung cơ bản của nhân cách.
- Tính cách là sự kết hợp các thuộc tính cơ bản và bền vững của con người, phản ánh lịch sử tác động qua lại giữa các cá nhân với điều kiện sống và giáo dục, biểu hiện ở thái độ đặc thù của cá nhân với hiện thực khách quan ở cách cư xử các hành vi xã hội của cá nhân đó. Các yếu tố ảnh hưởng tới tích cách Một số yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành phát triển của tính cách: ● Bẩm sinh di truyền - Các yếu tố bẩm sinh di truyền đóng vai trò tiền đề tự nhiên, là cơ sở vật chất cho sự hình thành và phát triển nhân cách. Các yếu tố bẩm sinh di truyền như đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh, cấu tạo của não, cấu tạo và hoạt động của các giác quan… Những yếu tố này sinh ra đã có do bố mẹ truyền lại hoặc tự nảy sinh do biến dị (bẩm sinh). - Di truyền là sự tái tạo ở đời sau những thuộc tính sinh học có ở đời trước, là sự truyền lại từ cha mẹ đến con cái những đặc điểm những phẩm chất nhất định (sức mạnh bên trong cơ thể, tồn tại dưới dạng như tư chất và năng lực) đã được ghi lại trong hệ thống gen di truyền.
● Môi trường sống Môi trường là những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng và góp phần hình thành nên tính cách chúng ta. Đó là nền văn hóa mà chúng ta sống, lớn lên cũng như các chuẩn mực gia đình, bạn bè, cộng đồng và những yếu tố ảnh hưởng khác mà chúng ta đã trải qua. Môi trường đóng vai trò quan trọng nhưng không phải quyết định. Ví dụ: Những người lớn lên ở vùng quê thường có tính rụt rè.
Trong khi đó, những người lớn lên ở thành phố lại có tính tự tin hơn. ● Giáo dục Giáo dục là quá trình tác động tự giác, chủ động đến con người nhằm thỏa mãn nhu cầu hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, đáp ứng những yêu cầu xã hội. Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, là toàn bộ những tác động của gia đình, nhà trường và xã hội. 2 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN.
Bộ môn Tâm lý học lao động. - Giáo dục gia đình: Ví dụ: Sự rụt rè hay tự tin ở người lớn lên ở quê hay thành phố một phần là do trẻ con ở quê được dạy phải biết sợ người lớn, biết vâng lời còn trẻ con ở thành phố được dạy phải dạn dĩ, không cần sợ ai. - Giáo dục nhà trường: Giáo dục nhà trường giúp cung cấp tri thức và nhận thức về thế giới, qua đó cải thiện tầm nhìn và tính cách cá nhân. Ví dụ: Những giáo viên có phương pháp dạy học khuyến khích học sinh phát biểu dù phát biểu sai cũng không mắng phạt sẽ giúp học sinh tự tin, tích cực phát biểu hơn.
● Hoạt động cá nhân Mọi tác động của các yếu tố trên đều trở nên vô nghĩa nếu thiếu hoạt động cá nhân. Vì vậy, hoạt động cá nhân có vai trò quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách. Hoạt động của con người luôn có tính mục đích, tính xã hội, được thực hiện bằng những thao tác và công cụ nhất định. Mỗi loại hoạt động đều có những yêu cầu về phẩm chất và năng lực nhất định của con người.
Cho nên, quá trình hoạt động làm cho con người phát triển các phẩm chất và năng lực đó. Vai trò của giao tiếp và tập thể: - Giao tiếp là nhân tố cơ bản cho việc hình thành tâm lý, ý thức, nhân cách. Ví dụ: Trẻ em chỉ tập trung vào các thiết bị điện tử cả ngày mà không giao tiếp với bất cứ ai sẽ hình thành tính cách nhút nhát, ngại giao tiếp và có khả năng dẫn đến bệnh tự kỷ. - Nhóm và tập thể có vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển nhân cách.
Tác động của tập thể đến nhân cách qua hoạt động cùng nhau, qua dư luận tập thể, truyền thống tập thể, bầu không khí tâm lý tập thể. Ví dụ: đứa trẻ sinh ra trong gia đình đông con sẽ có biết yêu thương, sẻ chia với mọi người xung quanh, còn đứa trẻ sinh ra là con một thường có tính ích kỷ hơn những đứa trẻ khác. 3 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN. Bộ môn Tâm lý học lao động.
Phương pháp trắc nghiệm tâm lý Trắc nghiệm tâm lý là một công cụ đã được tiêu chuẩn hoá dùng để đo lường một cách khách quan một hay một số mặt tâm lý nhân cách thông qua những mẫu câu trả lời bằng ngôn ngữ, phi ngôn ngữ hoặc bằng các hành vi khác. Các tiêu chuẩn của một trắc nghiệm tâm lý khác với các phương pháp nghiên cứu tâm lý khác là: Có độ tin cậy cao, nghĩa là kết quả đo bằng trắc nghiệm cùng một nghiệm thể, đối tượng ở nhiều lần đo khác nhau đều cho kết quả giống nhau. Có tính hiệu lực (ứng nghiệm) là trắc nghiệm phải đo được chính hiện tượng tâm lý cần đo, đúng với mục đích của trắc nghiệm. Tính tiêu chuẩn hóa - cách thức tiến hành, xử lý kết quả phải theo một tiêu chuẩn xác định và có quy chuẩn theo một nhóm chuẩn.
Trắc nghiệm tâm lý có nhiều loại như: trắc nghiệm trí tuệ Binê - Xmông, trắc nghiệm trí tuệ Raven. trắc nghiệm chẩn đoán nhân cách Ayzen, Rôsát, Murây. GIỚI THIỆU VÀ PHÂN TÍCH HAI BỘ TRẮC NGHIỆM TÍNH CÁCH MBTI và DISC 1. Lịch sử hình thành và mục đích của bài test trắc nghiệm tính cách MBTI và DISC 1.1 Bộ trắc nghiệm tính cách MBTI ● Lịch sử hình thành Từ các lý thuyết phân loại trong cuốn Psychological Types của Carl Gustav Jung xuất bản năm 1921, Katherine Cook Briggs cùng con gái của bà, Isabel Briggs Myers đã đưa ra bảng câu hỏi giúp xác định 16 nhóm tính cách.
Các câu hỏi tâm lý ban đầu đã phát triển thành Chỉ số phân loại Myers-Briggs và được công bố vào năm 1962. Cũng giống với bài trắc nghiệm IQ, MBTI Test nhấn mạnh vào sự khác biệt tự nhiên của từng người,và trả lời cho câu hỏi tại sao mỗi người trên thế giới đều có những các tính khác nhau. MBTI test được phát triển dựa vào nền tảng của tâm lý học, vì thế nó có tính chính xác khá cao và đang trở nên rất phổ biến. Nó giúp con người ta hiểu rõ bản thân và những người xung quanh hơn cũng như tìm được công việc phù hợp với mình.
Bài Trắc nghiệm MBTI có các dạng 70 câu, 72 câu, tuy nhiên dạng 76 câu là dạng sẽ phản ánh chính xác nhất. ● Mục đích: Trắc nghiệm tính cách Myers-Briggs, hay Chỉ số phân loại Myers-Briggs (Myers-Briggs Type Indicator), thường được viết ngắn gọn là MBTI, là một phương pháp sử 4 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN. Bộ môn Tâm lý học lao động. dụng các câu hỏi trắc nghiệm tâm lý để tìm hiểu tâm lý, tính cách cũng như cách con người nhận thức thế giới xung quanh, đưa ra quyết định cho một vấn đề.
MBTI trả lời cho câu hỏi tại sao mỗi người trên thế giới đều có cá tính khác nhau, không ai giống ai vì vậy MBTI tập trung vào các đối tượng dân số bình thường và nhấn mạnh vào sự khác biệt tự nhiên của mỗi người. Ngày nay MBTI đang trở nên phổ biến và được sử dụng như một phương pháp phân loại tính cách khá chính xác, giúp con người hiểu rõ bản thân và những người xung quanh hoặc tìm được công việc phù hợp… 1.2 Bộ trắc nghiệm tính cách DISC ● Lịch sử hình thành Trắc nghiệm DISC được xây dựng dựa trên lý thuyết DISC của nhà tâm lý học William Moulton Marston - là một luật sư và một nhà tâm lý học. Sau khi tiến hành nghiên cứu về cảm xúc của con người, Marston công bố những phát hiện của mình trong cuốn sách năm 1928 với cái tên Emotions of Normal People, trong đó ông giải thích rằng mọi người thể hiện cảm xúc của họ thông qua bốn loại hành vi: Thống trị (D- Dominance), Ảnh hưởng (I- Influence), Kiên định (S- Steadiness), và Tuân thủ (C- Conscientiousness). Mặc dù Marston đóng góp vào việc tạo ra trắc nghiệm DISC, ông không phải là người chính thức tạo ra bài trắc nghiệm này.
Năm 1956, Walter Clarke, một nhà tâm lý học, đã xây dựng trắc nghiệm DISC dựa trên lý thuyết mô hình DISC của Marston. Ông đã làm điều này bằng cách đưa ra bảng Activity Vector Analysis - một danh sách các tính từ được đưa ra để yêu cầu mọi người chỉ những từ nào mô tả chính xác nhất về bản thân họ. Đánh giá này được tạo ra nhằm đem vào sử dụng trong trường hợp các doanh nghiệp cần hỗ trợ trong việc lựa chọn nhân viên có trình độ.