CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân. Chú ý là trạng thái trong đó các nguồn lực nhận thức tập trung vào các khía cạnh nhất định của môi trường hơn là các khía cạnh khác và hệ thần kinh trung ương ở trạng thái sẵn sàng phản ứng với các kích thích (APA) .Chú ý bao gồm 4 khía cạnh( phân chia, di chuyển, duy trì và chọn lọc) (Koss, 1994).
Trong đó dựa trên khía cạnh phân chia chú ý theo chiều rộng phản ánh việc tiếp nhận một lúc nhiều hay ít kích thích, và hướng phản ánh chú ý hướng vào bên trong hay bên ngoài, Robert M.Nideffer lần đầu đề xuất mô hình phong cách chú ý. Phong cách chú ý không có định nghĩa chính xác nhưng có thể hiểu là xu hướng sử dụng của chú ý của một người. Tuỳ theo khía cạnh của chú ý về các loại phong cách chú ý khác nhau. Dựa trên khía cạnh về duy trì sẽ có phong cách Duy Trì chú ý và Di Chuyển chú ý (Nederhof et al., 2014; Sattizahn et al.
Dựa trên chọn lọc chú ý sẽ có phong cách chú ý Trọng Tâm(Di Corrado et al. Ngoài ra cùng một khía cạnh nhưng sẽ có những cách chia phong cách khác nhau. Dựa trên phân chia chú ý còn sẽ có phong cách Liên Kết và Phân Li (Jones et al., 2017) Có rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh được vai trò của phong cách chú trong cả lầm sàng và nghiên cứu. Về mặt nghiên cứu, nghiên cứu của (Nederhof et al., 2014) về giả thuyết rằng những người có phong cách chú ý Di Chuyển có trải nghiệm rủi ro tiền trưởng thành hay không và liệu rằng việc này có liên quan đến trầm cảm.
Kết quả chỉ ra rằng, những người có phong cách Di Chuyển trải nghiệm rủi ro tiền và hậu trưởng thành nhiều hơn người có phong cách Duy Trì và việc này có là nguyên nhân của trầm cảm. Cũng về trầm cảm, có một số giả thuyết về phương thức điều trị trầm cảm liên quan đến thay đổi phong cách chú ý (Sebastian, 2013). Nghiên cứu của (Jones et al., 2017) về ảnh hưởng của 6 phong cách chú ý lên kết quả nhận thức, tình cảm của học sinh ở lớp học thể dục. Kết quả thu được cho thấy phong cách Liên Kết tích cực hơn phong cách Phân Ly cả về mặt kiên định và có trải nghiệm.
Trong lâm sàng, phong cách chú ý cho thấy có liên quan đến việc bệnh nhân chạy thận tuân thủ khuyến nghị điều trị, dẫn đến ảnh hưởng đến kết quả điều trị(Lindberg et al. Trong lĩnh vực thể thao, nghiên cứu của (Majzub & Muhamad, 2010) trên khách thể cầu thủ golf đã cho kết quả phong cách chú ý dự đoán được hiệu suất thi đấu của tuyển thủ. Đồng quan điểm trên, nghiên cứu của (Sattizahn et al., 2016) cho thấy ở những tình huống áp lực cao những người có chú ý ly tán sẽ ảnh hưởng hiệu suất trí nhớ ngắn hạn và dễ gây ra lỗi. Theo từ điển tâm lý APA, liên cá nhân (interpersonal) nghĩa là liên quan đến các hành động, sự kiện và cảm xúc giữa hai hoặc nhiều cá nhân.
Theo đó, kỹ năng tương tác liên cá nhân là một năng lực cho phép một người thực hiện các tương tác và mối quan hệ hiệu quả với những người khác, chẳng hạn như khả năng truyền đạt suy nghĩ và cảm xúc hoặc đảm nhận các trách nhiệm xã hội thích hợp. Phong cách tương tác liên cá nhân được định nghĩa như là xu hướng cách con người tương tác với ngừoi khác, theo đó nhân cách của mỗi người quyết định cách họ tương tác với người khác(Alevriadou & Pavlidou, 2016). Những nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ giữa phong cách tương tác liên cá nhân của mối người với các vấn đề như: trầm cảm (Hisli Şahin et al., 2011), bạo lực cặp đôi (Yalch & Levendosky, 2016), hiệu quả điều trị trầm cảm (Messina et al., 2018), phong cách làm cha mẹ (Meisel, 2021). Trong lĩnh vực thể thao, nghiên cứu của (Matosic et al., 2017) cho kết quả phong cách tương tác liên cá nhân dạng Hỗ Trợ của huấn luyện viên có tương quan dương đến động lực của tuyển thủ.
Tại Việt Nam hiện nay, các nghiên cứu chỉ ở mức mới bắt đầu quan tâm đến chủ đề chú ý. Nghiên cứu của ( Phùng Phương Thảo, 2013) về khả năng chú ý có chủ định của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi chỉ cho kết quả về thực trạng và biểu hiện của khả năng chú ý. Nghiên cứu của (Đinh Công Dũng, 2011) trên đối 7 tượng sĩ quan quân sự cũng chỉ dừng lại ở khảo sát về thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của chú ý đối với việc học tập. Hơn nữa cả hai nghiên cứu trên đều tự xây dựng bộ công cụ dựa trên lí luận về chỉ báo và thiết kế nghiên cứu mà chưa thật sử dụng một bộ công cụ chuẩn khi khảo sát về chú ý.
Như vậy hiện nay, tại Việt Nam chưa có những nghiên cứu nào về mô hình phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân Như vậy, tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy vấn đề về phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân được quan tâm nghiên cứu trên toàn thế giới trong vòng 40 năm kể từ lần đầu được giới thiệu. Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề này ở Việt Nam, đặc biệt là sự thiếu công cụ đo lường về khái niệm này 1. Những nghiên cứu về thang đo phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân Năm 1976, Robert M.Nideffer lần đầu giới thiệu về “thang đo phong cách chú ý và tương tác giữa các cá nhân” (TAIS). Thang đo được cho rằng thuộc về lĩnh vực đo lường nhân cách (Nideffer, 2001; Nideffer, 1976) Dựa ý tưởng rằng ở mỗi người quá trình phân chia chú ý và cách mọi người phản ứng lại với môi trường là khác nhau và sẽ phân biệt được những nhóm người đặc trưng cho từng phong cách.
Thang đo xây dựng cấu trúc lý thuyết dựa trên cơ sở các công trình lý thuyết của Shakow (1962), Cromwell (1968), và Nideffer (1974) về phân chia chú ý, và quan sát lâm sàng của MacKinnon và Michels (1971) và Frank (1961) về phản ứng với các kích thích bên ngoài. Cuối cùng 17 nhân tố (factor) khác nhau của sự chú ý và hành vi tương tác giữa các cá nhân đã được xác định (Nideffer, 1976). Sau đó các khía cạnh này được dựa theo gợi ý của McClelland (1973), Wallace (1966), và Jackson (1971) để tìm ra cách hành vi cụ thể của các nhân tố trên. Kết quả cuối cùng là hình thành thang đo TAIS với 144 mục (item) được đo bằng thang likert 5 mức độ, chia ra thành 17 tiểu thang đo (Bảng 8 1.
Trong nghiên cứu của (Vassos, 2009), qua việc liên hệ riêng với tác giả đã tiếp cận được thang đo “Phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân - phiên bản 2) (TAIS2) với số câu hỏi được rút gọn so với ban đầu còn 124 mục nhưng vẫn giữ nguyên cấu trúc – đây cũng là phiên bản thang đo mà được nhóm lựa chọn để tiến hành thích nghi Loại Tiểu thang đo Mô tả Phong Chú ý rộng bên Điểm cao phản ánh khả năng làm cách chú ngoài (BET) việc hiệu quả của một cá nhân tích ý hợp nhiều kích thích bên ngoài cùng một lúc. Quá tải bởi kích Điểm cao phản ánh xu hướng mắc thích bên ngoài lỗi bởi vì cá nhân trở nên quá tải và (OET) bối rối bởi các kích thích bên ngoài Quá tải bởi các kích Điểm cao phản ánh xu hướng mắc thích bên trong lỗi bởi vì cá nhân tự nhầm lẫn với (OIT) suy nghĩ về quá nhiều thứ cùng một lúc Chú ý rộng bên Điểm cao phản ánh khả năng làm trong (BIT) việc hiệu quả của một cá nhân tích hợp các ý tưởng và thông tin từ các lĩnh vực khác nhau. Chú ý hẹp (NAR) Điểm số cao phản ánh khả năng thu hẹp sự chú ý của một cá nhân khi họ cần thiết Giảm tập trung Điểm cao phản ánh xu hướng của (RED) một cá nhân sai lầm bởi vì họ thu hẹp sự chú ý của bản thân quá nhiều Kiểm Kiểm soát hành vi Điểm cao phản ánh xu hướng bốc 9 soát (BCON) đồng và tham gia vào các hành vi (Control) chống đối xã hội Thang đo kiểm soát Điểm cao phản ánh khả năng của (CON) một cá nhân kiểm soát hầu hết các tình huống ( hoặc giữa các tương tác liên các nhân) Tương Lòng tự trọng (SES) Điểm số cao phản ánh một người có tác liên đánh giá cao về bản thân cá nhân Xử lý thông tin Điểm cao phản ánh xu hướng xử lý (INFP) lớn lượng thông tin kích thích Xu hướng thể lý Điểm cao phản ánh một cá nhân (P/O) thích các môn thể thao cạnh tranh Ám ảnh (OBS) Điểm cao phản ánh một người có xu hướng ngẫm nghĩ và lo lắng về mọi điều Hướng ngoại (EXT) Điểm cao phản ánh một người hướng ngoại, ấm áp, và thích ở bên mọi người Hướng nội (INT) Điểm cao phản ánh một người thích thời gian yên tĩnh, tránh trở thành trung tâm của sự chú ý và thích một mình Biểu hiện trí tuệ Điểm cao phản ánh một cá nhân (IEX) thích thể hiện ý tưởng và suy nghĩ của họ cho người khác Biểu hiện tình cảm Điểm cao phản ánh một cá nhân thể tiêu cực (NAE) hiện cảm xúc tiêu cực với người khác Biểu hiện tình cảm Điểm cao phản ánh một cá nhân thể 10 tích cực (PAE) hiện (cả bằng lời nói và thể chất) cảm xúc tình cảm tích cực của họ đối với người khác.1 : Tiểu thang đo của TAIS và mô tả đặc điểm của tiểu thang đo (Nideffer, 1976) Về các đặc tính tâm trắc, sau khi được công bố, thang đo được tác giả kiểm tra độ tin cậy và giá trị của thang đo. Nghiên cứu đầu tiên thực hiện 302 sinh viên chưa tốt nghiệp(Nideffer, 1976).
Mục tiêu để kiểm tra những đặc tính sau của thang đo : độ tin cậy đo- đo lại ( test – retest realiability), độ tin cậy nội tại (internal consistency realbility), giá trị cấu trúc (construct validity), giá trị dự đoán (predictive validity). Kết quả thu được ở các tiểu thang như sau: độ tin cậy đo – đo lại dao động từ 0.93; độ tin cậy nội tại Cronbach’s Alpha dao động từ 0.