Tổng quan luận án

Công trình "Nghiên cứu biện pháp tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa nâng cao thể lực cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân" là luận án tiến sĩ thuộc ngành Giáo dục học (mã số 9140101), do nghiên cứu sinh Trần Đình Huy thực hiện tại Viện Khoa học Thể dục Thể thao dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Quý Phượng và TS Nguyễn Kim Huy, bảo vệ năm 2021.

Giáo dục thể chất trong các cơ sở giáo dục đại học là bộ phận cấu thành của hệ thống giáo dục quốc dân, giữ vị trí quan trọng trong đào tạo nhân cách, nâng cao năng lực vận động và bồi dưỡng phương pháp rèn luyện thân thể suốt đời cho người học. Đối với lực lượng Công an nhân dân, thể lực là nền tảng trực tiếp bảo đảm khả năng tiếp thu kỹ thuật, chiến thuật quân sự, võ thuật và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn nghiệp vụ an ninh. Tại Học viện An ninh nhân dân, chương trình giảng dạy môn học giáo dục thể chất chính khóa được bố trí tương đối khoa học, đội ngũ giảng viên bảo đảm chuẩn trình độ và cơ sở vật chất sân bãi cơ bản đáp ứng yêu cầu. Tuy nhiên, các hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa còn diễn ra ít ỏi, hình thức tổ chức đơn điệu, chưa khai thác hết quỹ thời gian tự học và chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu rèn luyện thể lực của học viên trong môi trường quản lý tập trung.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tiễn: các công trình khoa học trước đây chủ yếu tập trung nghiên cứu giải pháp và mô hình hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa cho học sinh, sinh viên các trường chuyên ngành thể dục thể thao hoặc các trường đại học dân sự ngoài lực lượng vũ trang. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về các biện pháp tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa nhằm nâng cao thể lực cho sinh viên các trường Công an nhân dân, nơi có chế độ sinh hoạt, học tập và kỷ luật chuyên biệt.

Luận án xác định mục đích nghiên cứu là trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất và hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa, tiến hành lựa chọn và ứng dụng các biện pháp tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa nhằm nâng cao thể lực cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân.

Mục tiêu nghiên cứu được triển khai thành hai mục tiêu cụ thể:

  1. Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất và hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa của sinh viên Học viện An ninh nhân dân, bao gồm: thực trạng chương trình môn học giáo dục thể chất; thực trạng đội ngũ giảng viên; thực trạng cơ sở vật chất và kinh phí; thực trạng tham gia hoạt động ngoại khóa; thực trạng kết quả học tập môn học và thể lực của nam sinh viên.
  2. Mục tiêu 2: Lựa chọn và ứng dụng biện pháp tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa nâng cao thể lực cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân, bao gồm: lựa chọn các biện pháp; xây dựng nội dung biện pháp; ứng dụng và đánh giá hiệu quả của các biện pháp đã lựa chọn trong thực tiễn.

Giả thuyết nghiên cứu cho rằng hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa của sinh viên Học viện An ninh nhân dân chưa phát huy hiệu quả do nội dung và phương pháp tổ chức tập luyện chưa hấp dẫn, hình thức câu lạc bộ thể thao chưa phong phú. Việc xác lập các biện pháp tổ chức có cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện sinh hoạt và học tập thực tế sẽ thu hút đông đảo sinh viên tham gia, nâng cao các chỉ số thể lực và kết quả học tập môn học giáo dục thể chất.

Về đối tượng và phạm vi:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa nâng cao thể lực cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân.
  • Khách thể nghiên cứu: Nam sinh viên hệ đào tạo đại học chính quy tại Học viện An ninh nhân dân.
  • Phạm vi không gian: Học viện An ninh nhân dân.
  • Phạm vi thời gian: Luận án thực hiện quá trình khảo sát, thu thập số liệu và thực nghiệm sư phạm trong giai đoạn 2016 - 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và ngành Công an về công tác giáo dục thể chất trường học:

  • Các văn kiện của Đảng: Chỉ thị số 17/CT-TW (2002) của Ban Bí thư Trung ương Đảng; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và XI của Đảng; Nghị quyết số 08-NQ/TW (2011) của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020.
  • Chính sách, pháp luật của Nhà nước: Điều 41 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2006); Điều 20 Luật Thể dục, thể thao năm 2006; Điều 5 Luật Giáo dục đại học năm 2012; Nghị định số 11/2015/NĐ-CP của Chính phủ; Nghị quyết số 16/NQ-CP (2013) ban hành Chương trình hành động của Chính phủ; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 - 2030.
  • Văn bản của Bộ Công an: Chỉ thị số 36/CT-TW; Chỉ thị số 10/2006/CT-BCA về tăng cường công tác huấn luyện quân sự, võ thuật trong lực lượng Công an nhân dân; Thông tư số 24/2013/TT-BCA quy định tiêu chuẩn rèn luyện thể lực trong lực lượng Công an nhân dân; Thông tư số 15/2016/TT-BCA quy định tuyển sinh vào các trường Công an nhân dân.

Về các công trình trong nước, tác giả điểm lại các nghiên cứu về hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa của học sinh, sinh viên như: Nguyễn Duy Quyết (2006), Nguyễn Đức Thành (2013), Ngô Quang Huy (2017), Phùng Xuân Dũng (2017), Đặng Minh Thành (2018), Trần Thị Như Quỳnh (2020). Các công trình này đã đề xuất nhiều mô hình câu lạc bộ, biện pháp quản lý, phương thức tập luyện ngoại khóa nhằm cải thiện thể chất cho sinh viên đại học. Tuy nhiên, các tác giả đều tiếp cận đối tượng tại các trường chuyên ngữ, trường sư phạm, trường thể thao hoặc đại học khối dân sự; chưa nghiên cứu trên đối tượng học viên lực lượng vũ trang.

Về các công trình quốc tế, luận án khảo cứu:

  • Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 1998) với đề tài "Thúc đẩy lối sống năng động trong trường học", nhấn mạnh việc hình thành thói quen vận động sớm giúp duy trì sức khỏe trong suốt cuộc đời.
  • Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2008) với báo cáo "Sức khỏe và sự phát triển thể chất thông qua hoạt động thể thao", phân tích các nguy cơ của việc thiếu hụt hoạt động thể chất.
  • Kimiko Fujita (2005) nghiên cứu "Ảnh hưởng của hoạt động ngoại khóa đối với thành tích học tập học sinh trung học", chứng minh tham gia thể thao tác động thuận chiều đến kết quả học tập.
  • Tenhouse (2008) trong nghiên cứu "Các hoạt động ngoại khóa trong trường đại học - Tác động đến sinh viên", phân loại các mô hình câu lạc bộ, tổ chức thể thao sinh viên tại Hoa Kỳ.
  • Webber và Andrew Mearman (2009) tại Đại học West of England với đề tài "Sự tham gia của sinh viên vào các hoạt động thể thao", đề xuất chính sách tổ chức thể thao sinh viên mang tính xã hội và cạnh tranh.
  • Riman Demond (1995) trong tài liệu "Vai trò của hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa", chỉ rõ chức năng điều hòa tâm lý và tái tạo năng lực làm việc.

Khoảng trống luận án giải quyết là xây dựng các giải pháp tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa thích ứng với mô hình trường đại học lực lượng vũ trang: học viên ăn, ở, sinh hoạt tập trung; có chế độ thể dục sáng (5h30 hoặc 5h45) và thể dục chiều (17h00) bắt buộc; thời khóa biểu học tập chính khóa cố định; giờ ăn cơm nhà ăn nghiêm ngặt và chế độ tập luyện điều lệnh hàng năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng các khái niệm và cơ sở lý luận chuyên ngành Giáo dục học và Thể dục thể thao:

  • Thể chất: Dẫn theo A. Matveep (1980), thể chất là chất lượng cơ thể con người, gồm những đặc trưng về hình thái và chức năng hình thành do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống. Theo Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn, thể chất bao gồm thể hình, năng lực thể chất và năng lực thích ứng.
  • Giáo dục thể chất: Quá trình sư phạm có tổ chức nhằm truyền thụ và tiếp thu các giá trị thể dục thể thao, dạy học vận động và phát triển có chủ đích các tố chất vận động. Giáo dục thể chất được phân định thành giáo dục thể chất nội khóa (chính khóa, bắt buộc) và hoạt động ngoại khóa (tự nguyện, ngoài giờ).
  • Thể lực và 5 tố chất thể lực cơ bản:
    • Sức nhanh: Tổ hợp đặc điểm chức năng xác định tính chất nhanh của động tác và thời gian phản ứng vận động (Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn).
    • Sức mạnh: Khả năng chống lại hoặc khắc phục lực cản nhờ nỗ lực của cơ bắp (A. Matveep; Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn).
    • Sức bền: Năng lực duy trì khả năng vận động với cường độ cho trước trong thời gian dài nhất mà cơ thể chịu đựng được (A. Matveep; Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn).
    • Khéo léo: Khả năng thực hiện hoạt động vận động chính xác và hiệu quả cao theo yêu cầu bài tập (Lê Bửu, Trịnh Trung Hiếu, Trịnh Hùng Thanh, Hồ Thiệu Tùng, Trần Đức Phấn).
    • Mềm dẻo: Khả năng thực hiện các bài tập có biên độ lớn nhờ độ đàn hồi của cơ, khớp và dây chằng (A. Matveep).
  • Đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi 18 - 22:
    • Tâm lý: Giai đoạn tự ý thức, khẳng định cái tôi, phát triển tư duy trừu tượng và định hình nhân cách nghề nghiệp.
    • Sinh lý: Xương cốt hóa hoàn toàn ở giai đoạn 20 - 25 tuổi; hệ cơ bắp hoàn thiện tạo điều kiện gia tăng sức mạnh; hệ thần kinh trung ương ổn định với ba đặc tính theo Panov (cường độ hưng phấn - ức chế, tính cân bằng và tính linh hoạt); hệ tuần hoàn có trọng lượng tim đạt 220 - 240g, tần số tim 70 - 78 lần/phút, huyết áp 100 - 130/70 - 85 mmHg; hệ hô hấp có tần số 12 - 16 lần/phút, dung tích sống nam đạt khoảng 3500ml; chỉ số tiêu thụ oxy tối đa ($VO_2\ max$) đạt giá trị cực đại ở độ tuổi 25.

Luận án sử dụng 8 phương pháp nghiên cứu:

  1. Phân tích và tổng hợp tài liệu: Thu thập, xử lý các chủ trương, văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình, công trình nghiên cứu.
  2. Phỏng vấn toạ đàm: Sử dụng phiếu hỏi khảo sát nhận thức, động cơ ($n = 270$); khảo sát thực trạng tập luyện, rào cản tham gia, môn thể thao ưa thích ($n = 262$ nam sinh viên); phỏng vấn chuyên gia để lựa chọn biện pháp và test thể lực ($n = 30$).
  3. Quan sát sư phạm: Ghi nhận thực tế các buổi tập chính khóa, ngoại khóa, phong trào thể thao của sinh viên.
  4. Kiểm tra sư phạm: Đo lường các chỉ số tố chất thể lực vận động thông qua các bài test chuyên môn.
  5. Kiểm tra y học: Đo đạc chỉ số hình thái, tần số tim, huyết áp và xác định $VO_2\ max$ gián tiếp qua test chạy 12 phút của Cooper (Bảng 2.1).
  6. Kiểm tra tâm lý: Đánh giá thái độ, động cơ tham gia rèn luyện thể dục thể thao của học viên.
  7. Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm trên nhóm đối tượng $n = 118$ nam sinh viên, kiểm tra trước thực nghiệm và theo dõi biến đổi sau 4.5 tháng và 9 tháng.
  8. Toán học thống kê: Sử dụng các công thức tính giá trị trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($S$), nhịp tăng trưởng ($W%$) theo công thức Brody, kiểm định sai khác bằng chỉ số $t$-Student.
Phương pháp nghiên cứu Đối tượng / Quy mô mẫu ($n$) Mục đích sử dụng chính
Khảo sát bằng phiếu hỏi $n = 270$ sinh viên Đánh giá nhận thức, động cơ đối với thể dục thể thao ngoại khóa
Khảo sát bằng phiếu hỏi $n = 262$ nam sinh viên Khảo sát thực trạng tập luyện, rào cản và môn thể thao yêu thích
Phỏng vấn chuyên gia $n = 30$ cán bộ, giảng viên Lựa chọn hệ thống biện pháp tổ chức và danh mục test đánh giá thể lực
Thực nghiệm sư phạm $n = 118$ nam sinh viên Kiểm chứng hiệu quả các biện pháp tổ chức ngoại khóa qua 4.5 và 9 tháng
Kiểm tra y học $n = 118$ nam sinh viên Đánh giá mạch, huyết áp và xác định $VO_2\ max$ qua bài test chạy 12 phút

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương 1 trình bày cơ sở lý luận về giáo dục thể chất và thể dục thể thao ngoại khóa trong nhà trường đại học. Tác giả phân tích các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Bộ Công an, khẳng định rèn luyện thể lực là nghĩa vụ bắt buộc nhằm phục vụ công tác chiến đấu và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

Chương này phân tích các yếu tố đặc thù của sinh viên Học viện An ninh nhân dân:

  • Tiêu chuẩn sơ tuyển đầu vào theo Thông tư số 15/2016/TT-BCA: Thể hình cân đối, chỉ số BMI đối với nam đạt từ 17.02 đến dưới 30, chiều cao từ 1,64m trở lên và cân nặng từ 48kg trở lên; chỉ tiêu tuyển sinh nữ chiếm tỷ lệ thấp (khoảng 10%).
  • Chế độ sinh hoạt tập trung: Sinh viên ăn ở nội trú; ăn cơm tại nhà ăn tập thể theo khung giờ quy định (trưa 11h20 - 12h00, chiều 17h00 - 18h30); thực hiện chế độ thể dục sáng bắt buộc (5h30 vào mùa hè, 5h45 vào mùa đông, kéo dài 10 - 20 phút) và thể dục chiều bắt buộc từ 17h00; tập huấn điều lệnh đội ngũ cao điểm vào tháng 3 và tháng 4.
  • Lịch học tập chính khóa: Bố trí dày đặc vào buổi sáng (7h30 - 11h20) và buổi chiều (13h00 - 16h50), ảnh hưởng trực tiếp đến quỹ thời gian dành cho thể thao tự nguyện.
  • Khảo cứu các công trình liên quan trong và ngoài nước khẳng định vai trò của hoạt động ngoại khóa, đồng thời xác lập vị trí của luận án trong việc giải quyết bài toán rèn luyện thể lực trong môi trường bán quân sự.

Chương 2. Đối tượng, phương pháp và tổ chức nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết đối tượng, khách thể, quy trình nghiên cứu và tổ chức thực nghiệm. Tác giả chuẩn hóa 8 phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành. Trong phương pháp kiểm tra y học, luận án mô tả phương thức gián tiếp xác định $VO_2\ max$ bằng thành tích chạy 12 phút của Cooper (Bảng 2.1).

Luận án thiết kế quy trình thực nghiệm sư phạm kiểm chứng tính khả thi của hệ thống biện pháp trên nhóm thực nghiệm gồm 118 nam sinh viên trong 9 tháng, phân chia mốc kiểm tra trung gian tại 4.5 tháng và mốc tổng kết tại 9 tháng. Các tiêu chí đánh giá bao gồm: nhóm chỉ số hình thái, nhóm chỉ số chức năng sinh lý và nhóm test sư phạm đo lường thể lực vận động theo tiêu chuẩn của Bộ Công an.

Chương 3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 3 trình bày các kết quả khảo sát thực trạng và số liệu thực nghiệm:

  1. Đánh giá thực trạng:
  • Chương trình môn học giáo dục thể chất (Bảng 3.1): Kết cấu chặt chẽ theo học chế tín chỉ nhưng số tiết trên lớp có hạn, đòi hỏi phải bổ trợ bằng giờ tự tập ngoại khóa.
  • Đội ngũ giảng viên (Bảng 3.2): Đội ngũ giảng viên Khoa Quân sự, Võ thuật và Thể dục thể thao giai đoạn 2016 - 2018 bảo đảm về trình độ chuyên môn, song số lượng phụ trách hướng dẫn ngoại khóa còn thiếu.
  • Cơ sở vật chất và kinh phí (Bảng 3.3, 3.4): Hệ thống sân bãi, nhà tập cơ bản đầy đủ nhưng dụng cụ tập luyện chuyên sâu và nguồn kinh phí dành riêng cho hoạt động ngoại khóa còn hạn chế.
  • Nhận thức và thực trạng tham gia: Khảo sát nhận thức trên 270 sinh viên (Bảng 3.6) cho thấy đa số đánh giá cao vai trò của thể dục thể thao ngoại khóa. Tuy nhiên, kết quả điều tra trên 262 nam sinh viên (Bảng 3.7, 3.8, 3.9) chỉ ra nhiều rào cản: quỹ thời gian eo hẹp, trùng giờ ăn cơm tập thể, thiếu người hướng dẫn chuyên môn và hình thức tập luyện đơn điệu. Môn thể thao được yêu thích nhất là bóng đá, bóng chuyền, cầu lông và võ thuật.
  • Thực trạng thể lực: Đánh giá theo tiêu chuẩn rèn luyện thể lực của Bộ Công an quy định tại Thông tư số 24/2013/TT-BCA (Bảng 3.11, 3.12, 3.13, 3.14) cho thấy tỷ lệ học viên xếp loại Tốt và Khá còn chưa đồng đều, vẫn còn tỷ lệ nhất định ở mức Đạt và Chưa đạt.
  1. Lựa chọn và thực nghiệm biện pháp:
  • Luận án tiến hành phỏng vấn 30 chuyên gia (Bảng 3.15) để lựa chọn hệ thống biện pháp tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa phù hợp điều kiện học viện: thành lập và duy trì các câu lạc bộ thể thao theo sở thích; tổ chức tập luyện nhóm có hướng dẫn viên; điều chỉnh khung thời gian tập luyện tránh xung đột với giờ nhà ăn và giờ điểm danh; gắn kết phong trào ngoại khóa với giải thi đấu của Đoàn thanh niên.
  • Lựa chọn hệ thống test đánh giá thể lực thông qua phỏng vấn 30 chuyên gia (Bảng 3.16).
  • Kết quả thực nghiệm trên 118 nam sinh viên sau 4.5 tháng và 9 tháng (Bảng 3.17 đến 3.25):
    • Các chỉ số chức năng sinh lý: Tần số tim trong yên tĩnh giảm, dung tích sống tăng, chỉ số $VO_2\ max$ gia tăng rõ rệt so với trước thực nghiệm. Nhịp tăng trưởng các chỉ số chức năng đạt mức tích cực qua 9 tháng (Bảng 3.18, 3.19, 3.20).
    • Thành tích các test thể lực: Các tố chất sức nhanh, sức mạnh, sức bền và khéo léo đều có bước cải thiện đáng kể với mức sai khác có ý nghĩa thống kê ($p < 0.05$ và $p < 0.01$).
    • Phân loại thể lực theo Thông tư số 24/2013/TT-BCA: Sau 9 tháng thực nghiệm, tỷ lệ sinh viên đạt loại Tốt và Khá tăng lên vượt bậc, tỷ lệ sinh viên xếp loại Đạt giảm rõ rệt và không còn học viên Chưa đạt (Bảng 3.21, 3.22, 3.23, 3.24, 3.25).
Giai đoạn theo dõi Nội dung kiểm tra Xu hướng biến đổi chính Căn cứ số liệu
Sau 4.5 tháng thực nghiệm ($n = 118$) Hình thái và chức năng sinh lý Tần số tim giảm nhẹ, dung tích sống và $VO_2\ max$ bắt đầu có chuyển biến Bảng 3.18, Biểu đồ 3.4, 3.5
Sau 4.5 tháng thực nghiệm ($n = 118$) Thành tích test thể lực Các chỉ số sức bật, sức bền, co tay xà đơn cải thiện; xếp loại thể lực tăng tỷ lệ Khá Bảng 3.21, Bảng 3.22
Sau 9 tháng thực nghiệm ($n = 118$) Hình thái và chức năng sinh lý Chức năng tim mạch và hô hấp cải thiện ổn định; $VO_2\ max$ duy trì nhịp tăng trưởng cao Bảng 3.19, Bảng 3.20
Sau 9 tháng thực nghiệm ($n = 118$) Thành tích test thể lực và xếp loại Tỷ lệ xếp loại Tốt và Khá tăng cao; không còn trường hợp xếp loại Chưa đạt ($p < 0.05$) Bảng 3.23, Bảng 3.25

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án công bố các đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn:

  • Đóng góp về mặt lý luận: Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý và tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa trong môi trường đào tạo đại học của lực lượng vũ trang nhân dân. Luận án làm rõ đặc điểm tác động qua lại giữa chế độ học tập, sinh hoạt bán quân sự với nhu cầu vận động của người học, khẳng định hoạt động ngoại khóa là cầu nối hoàn thiện thể lực nghề nghiệp bên cạnh giờ học chính khóa.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn:
    • Cung cấp bức tranh toàn diện và dữ liệu thực chứng về thực trạng giảng dạy môn học giáo dục thể chất, cơ sở vật chất sân bãi, đội ngũ giảng viên và mức độ thể lực của nam sinh viên Học viện An ninh nhân dân giai đoạn 2016 - 2018.
    • Xác định và kiểm chứng hệ thống các biện pháp tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa phù hợp với đặc thù sinh hoạt nội trú: xây dựng mô hình câu lạc bộ thể thao sở thích, thành lập nhóm tập luyện có người hướng dẫn chuyên môn, tối ưu hóa khung giờ tập luyện ngoại khóa vào các buổi chiều tránh trùng giờ ăn cơm tập thể, lồng ghép hoạt động thi đấu thể thao vào phong trào công tác Đoàn.
    • Chuẩn hóa hệ thống tiêu chí, bài test đánh giá thể lực kết hợp giữa chỉ số sinh lý y học ($VO_2\ max$ qua test Cooper 12 phút) với tiêu chuẩn rèn luyện thể lực của Bộ Công an quy định tại Thông tư số 24/2013/TT-BCA.
    • Minh chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất thông qua kết quả thực nghiệm sư phạm 9 tháng trên 118 nam sinh viên, thể hiện qua sự cải thiện rõ rệt của các chỉ số hình thái, chức năng và nâng cao tỷ lệ xếp loại thể lực đạt chuẩn chiến đấu.

Các giải pháp và kiến nghị đề xuất:

  • Đối với lãnh đạo Học viện An ninh nhân dân: Quan tâm đầu tư bổ sung trang thiết bị, cải tạo sân bãi chuyên dụng; phê duyệt cơ chế quản lý và bố trí ngân sách thường xuyên hỗ trợ hoạt động của các câu lạc bộ thể thao ngoại khóa.
  • Đối với công tác tổ chức sinh hoạt: Cân đối và điều chỉnh linh hoạt khung giờ mở cửa nhà ăn tập thể buổi chiều, tạo điều kiện thuận lợi về mặt thời gian để sinh viên tham gia rèn luyện thể thao ngoài giờ trước khi ăn tối và điểm danh.
  • Đối với Khoa Quân sự, Võ thuật và Thể dục thể thao: Phân công giảng viên hỗ trợ chuyên môn, hướng dẫn kỹ thuật tập luyện cho các câu lạc bộ và phong trào tự tập của học viên; phối hợp Đoàn thanh niên tổ chức các giải đấu thể thao thường niên theo các môn được ưa chuộng (bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, võ thuật).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế: Luận án chỉ giới hạn phạm vi khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm trên đối tượng nam sinh viên đại học chính quy tại Học viện An ninh nhân dân. Chưa nghiên cứu áp dụng thực nghiệm trên đối tượng nữ sinh viên (chiếm tỷ lệ tuyển sinh khoảng 10% với những rào cản tâm lý và thể trạng riêng). Đồng thời, luận án chưa mở rộng phạm vi khảo sát đối chứng sang các cơ sở giáo dục đại học khác trong ngành Công an như Học viện Cảnh sát nhân dân, Đại học An ninh nhân dân hay Đại học Cảnh sát nhân dân.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu xây dựng các biện pháp tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa cho nữ sinh viên trong các học viện, trường Công an nhân dân.
  • Nghiên cứu phát triển các mô hình câu lạc bộ thể thao ứng dụng nghiệp vụ chuyên biệt (như câu lạc bộ bơi vũ trang, bắn súng, vượt vật cản nghiệp vụ, võ thuật ứng dụng chiến đấu) thích ứng với từng chuyên ngành nghiệp vụ an ninh.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Giáo dục học, Lý luận và Phương pháp giáo dục thể chất: Tham khảo quy trình thiết kế nghiên cứu thực nghiệm sư phạm kết hợp chỉ số y học (xác định $VO_2\ max$ bằng test chạy 12 phút của Cooper, nhịp tăng trưởng Brody) để đánh giá năng lực thể chất.
  • Cán bộ quản lý giáo dục, chỉ huy phòng ban quản lý học viên tại các trường đại học lực lượng vũ trang: Tham khảo mô hình quản lý, phương thức tháo gỡ rào cản thời gian sinh hoạt tập trung và giải pháp phối hợp giữa tổ chức Đoàn với bộ môn thể dục thể thao.
  • Giảng viên môn học giáo dục thể chất tại các trường Công an nhân dân: Trực tiếp áp dụng các nội dung, bài tập thể lực ngoại khóa và tiêu chí kiểm tra thể lực bám sát Thông tư số 24/2013/TT-BCA của Bộ Công an.

Câu hỏi thường gặp

1. Mục đích và hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận án là gì?

Mục đích nghiên cứu là trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất và hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa, tiến hành lựa chọn và ứng dụng các biện pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa nâng cao thể lực cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân. Hai mục tiêu gồm: Mục tiêu 1 đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất và hoạt động ngoại khóa (chương trình, giảng viên, cơ sở vật chất, thực trạng tham gia, kết quả học tập và thể lực); Mục tiêu 2 lựa chọn, xây dựng nội dung và ứng dụng các biện pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa nhằm nâng cao thể lực cho sinh viên.

2. Những đặc thù sinh hoạt nào của sinh viên Học viện An ninh nhân dân ảnh hưởng đến hoạt động ngoại khóa?

Sinh viên chịu sự chi phối của chế độ sinh hoạt tập trung: ăn cơm tại nhà ăn theo giờ cố định (trưa 11h20 - 12h00, chiều 17h00 - 18h30); thực hiện thể dục sáng bắt buộc lúc 5h30 hoặc 5h45 (dài 10 - 20 phút) kèm vệ sinh công cộng; thể dục chiều bắt buộc lúc 17h00; tập huấn điều lệnh cao điểm vào tháng 3 - tháng 4; cùng lịch học chính khóa kín cả sáng (7h30 - 11h20) và chiều (13h00 - 16h50). Các yếu tố này thu hẹp đáng kể quỹ thời gian tự do cho hoạt động ngoại khóa.

3. Luận án căn cứ vào những văn bản quy phạm nào của Bộ Công an để đánh giá thể lực và sức khỏe sinh viên?

Luận án căn cứ vào Thông tư số 15/2016/TT-BCA ngày 16/03/2016 về tiêu chuẩn sức khỏe sơ tuyển đầu vào (nam cao từ 1,64m, nặng từ 48kg, BMI từ 17.02 đến dưới 30; nữ cao từ 1,58m, nặng từ 45kg) và Thông tư số 24/2013/TT-BCA ngày 11/04/2013 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định tiêu chuẩn rèn luyện thể lực trong lực lượng Công an nhân dân để phân loại mức độ thể lực.

4. Quy mô các mẫu khảo sát và mẫu thực nghiệm sư phạm trong luận án là bao nhiêu?

Quy mô mẫu gồm: khảo sát nhận thức, động cơ của sinh viên ($n = 270$); điều tra thực trạng tập luyện, rào cản và môn thể thao yêu thích của nam sinh viên ($n = 262$); phỏng vấn chuyên gia lựa chọn biện pháp và test thể lực ($n = 30$); và mẫu thực nghiệm sư phạm theo dõi trong 9 tháng ($n = 118$ nam sinh viên).

5. Phương pháp y học nào được sử dụng để xác định khả năng hấp thụ oxy tối đa ($VO_2\ max$)?

Luận án sử dụng phương pháp kiểm tra y học gián tiếp xác định $VO_2\ max$ thông qua thành tích bài test chạy 12 phút của Cooper, đối chiếu với bảng quy đổi chuẩn (Bảng 2.1) được trình bày trong Chương 2.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Đình Huy đã giải quyết vấn đề tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa cho nam sinh viên Học viện An ninh nhân dân trong điều kiện đào tạo bán quân sự. Bằng việc kết hợp các phương pháp điều tra xã hội học, kiểm tra y học và thực nghiệm sư phạm trong 9 tháng trên 118 nam học viên, luận án đã xác lập hệ thống biện pháp tổ chức ngoại khóa thích ứng với chế độ sinh hoạt nội trú. Các dữ liệu thực nghiệm đã chứng minh sự cải thiện rõ rệt về chức năng tim mạch, hô hấp và các tố chất thể lực của sinh viên theo tiêu chuẩn rèn luyện của Bộ Công an. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn cho công tác giáo dục thể chất tại các học viện, trường đại học thuộc lực lượng vũ trang nhân dân.