CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Phương pháp, giải pháp, biện pháp Tổng hợp các tài liệu về quản lý học, nhiều học gỉa đề cập một số khái niệm liên quan, đó là phương pháp, giải pháp, biện pháp giải quyết những chính sách, đề án, kế hoạch để đạt mục tiêu đã đặt ra. Phương pháp quản lý là các thức, con đường giải quyết mục tiêu để đảm bảo việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của một tổ chức nào đó trong quá trình quản lý một cách khoa học, khách quan phù hợp lý luận và thực tiễn Giải pháp là cách giải quyết một vấn đề khó khăn gặp phải trong quá trình làm việc, giải pháp là tổng thể các biện pháp hợp thành.
Như vậy giải pháp có thể bao gồm rất nhiều biện pháp cụ thể. Trong các tài liệu quản lý xã hội, quản lý kinh tế, các học giả đề cập các nhóm giải pháp theo chức năng nhiệm vụ như: Giải pháp giáo dục; trong đó có những biện pháp tuyên truyền bằng tài liệu, sách báo một cách thường xuyên, tuyên dương khen thưởng; Giải pháp hành chính; trong đó có các biện pháp về bộ máy, nhân lực, tổ chức điều hành cụ thể; Giải pháp kinh tế; trong đó có các biện pháp vật chất, tiền tệ, khen thưởng; Giải pháp động viên tinh thần và vật chất; Giải pháp được định nghĩa trong quản lý xã hội học đã đề cập đến khái niệm giải pháp quản lý xã hội:giải pháp quản lý xã hội là phương tiện, hành vi thực hiện sự tác động bằng quản lý; phương thức biểu thị các mối quan hệ quản lý[16],[71],[93].Trên cơ sở khái niệm đã nêu có thể cụ thể hóa các giải pháp như sau: những phương tiện, hành vi, công cụ được tác động sử dụng thông qua quản lý theo một lộ trình quy định. 6 Các phương tiện, hành vi, công cụ này thể hiện ở hình thức là các chương trình và dự án được thực hiện trong một phạm vi lộ trình xác định để đạt được mục tiêu quản lý. Trong các tài liệu về quản lý còn đề cập mối quan hệ giữa phương pháp quản lý gồm các giải pháp, biện pháp sử dụng trong quản lý như: Giải pháp là cách thức thực hiện các phương pháp.
Giải pháp là cụ thể hóa các phương pháp hay ứng dụng các phương pháp vào thực tiễn quản lý. Trong một phương pháp có nhiều giải pháp cụ thể. Mặt khác một giải pháp cụ thể có thể là thành phần của nhiều phương pháp khác nhau. Giữa phương pháp và giải pháp có sự tương đồng nhưng không phải đồng nghĩa với nhau.
Một nhóm giải pháp cụ thể tổng hợp thành phương pháp quản lý. Từ các phương pháp quản lý hình thành các nhóm giải pháp (mỗi phương pháp có một nhóm giải pháp), trong mỗi giải pháp có các biện pháp cụ thể[40]. Biện pháp là cách thức, công cụ thực hiện giải pháp. Trong quá trình quản lý để thực hiện một phương pháp quản lý cần áp dụng một nhóm giải pháp, trong mỗi giải pháp có những biện pháp cụ thể cần triển khai.
Trong một giải pháp lớn có cả hệ thống giải pháp thành phần. Hệ thống giải pháp thành phần tác động để hình thành và phát triển thành giải pháp lớn.Các giải pháp xây dựng và phát triển các câu lạc bộ TDTT công lập và ngoài công lập cũng là hệ thống các giải pháp quản lý[13],[65],[70]. Trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước về công tác thể dục thể thao thường đề cập các giải pháp xây dựng và phát triển TDTT trong đó xã hội hóa là một chủ trương lớn nhưng cũng là một giải pháp lớn trong nhiệm vụ xây dựng đất nước trước đây và trong những năm đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước bước vào xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa[1]. Người tập thể dục thể thao 7 Người tập TDTT là người thường xuyên sử dụng các bài tập các môn thể thao, các phương pháp hoạt động thể lực để rèn luyện thân thể nhằm mục đích như tăng cường sức khỏe phát triển thể lực, phục hồi chức năng, phòng chữa bệnh, vui chơi giải trí tinh thần [24],[34].
Ở nước ta, bắt đầu từ năm 1978 Chính phủ quyết định công nhận Ngành TDTT là ngành kế hoạch Nhà nước, thì khái niệm người tập TDTT được sử dụng trong hệ thống chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước, đó là tỉ lệ phần trăm (%) người tập TDTT so với tổng số dân của cả nước ở từng thời kỳ (1 năm, 5 năm…). Theo quy định của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, tiêu chí người tập TDTT thường xuyên là tập luyện ít nhất mỗi tuần 2 - 3 buổi, mỗi buổi 30 phút và liên tục 6 tháng trở lên [13]. Người tập TDTT thường xuyên được áp dụng cho những học sinh, sinh viên trong các trường học khi thực hiện đầy đủ nội dung chương trình giáo dục thể chất quy định của Nhà nước cho từng cấp học, áp dụng cho lực lượng vũ trang thực hiện đầy đủ các chương trình rèn luyện thể lực theo quy định của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an về đối tượng, lứa tuổi và nội dung [8],[25],[44]. Phát triển thể dục thể thao quần chúng và thể thao trường học Luật thể dục, thể thao quy định tại điều 11 trách nhiệm của chính quyền, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp về thể thao, cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp phải làm những việc gì để phát triển thể dục, thể thao quần chúng.
Như thế khi kiểm tra, đánh giá phát triển thể dục, thể thao quần chúng trước hết chúng ta phải đặt ra tiêu chí cho từng nhiệm vụ của mỗi chủ thể và kiểm tra theo tiêu chí đó xem mức độ đạt được đến đâu [58]. Ví dụ, Luật định: "Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm xây dựng các công trình thể thao công cộng, đảm bảo nhân lực về chuyên môn, nghiệp vụ thể dục, thể thao; xây dựng mạng lưới cộng tác viên thể dục, thể thao cơ sở đáp ứng yêu cầu hoạt động thể dục, thể thao của cộng đồng dân cư." Vậy thì, hàng năm chúng ta phải kiểm tra, đánh giá xem bao nhiêu Uỷ ban nhân dân cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh xây 8 dựng được bao nhiêu công trình thể thao công cộng theo tiêu chí đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật như thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng Bộ Văn hoá- thông tin và Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban TDTT số 22/2007/TTLT/BVHTT- UBTDTT ngày 24 tháng 7 năm 2007; Bao nhiêu cán bộ TDTT được đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng. Mạng lưới cộng tác viên thể dục, thể thao cơ sở đã được xây dựng theo các tiêu chí tại thông tư số 05/2007/TT-UBTDTT ngày 20/7/2007 [80]. Hay như tại khoản 3 Điều 11 quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm vận động hội viên tham gia hoạt động thể dục,thể thao nhằm rèn luyện thân thể, nâng cao sức khoẻ; phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về thể dục thể thao tổ chức biểu diễn và thi đấu thể thao quần chúng.” Khi kiểm tra, đánh giá phát triển thể dục, thể thao quần chúng, cơ quan quản lý nhà nước phải tính toán đưa ra những tiêu chí về "vận động hội viên" là hoạt động gì cụ thể có phải là số hội viên được phổ biến kiến thức, hướng dẫn tập luyện hay là số hội viên qua các hình thức phổ biến tuyên truyền nay đang luyện tập thường xuyên hay đánh giá bằng cả hai chỉ số này, để có cơ sở kiểm tra, đánh giá.
Rồi các tiêu chí về số cuộc thi đấu, biểu diễn thể thao với số hội viên tham gia v.Khoản 4 Điều 11 cũng chỉ rất rõ về trách nhiệm của tổ chức xã hội- nghề nghiệp về thể thao là vận động mọi người tham gia phát triển phong trào thể dục, thể thao, phổ biến kiến thức, hướng dẫn tập luyện thể dục, thể thao phù hợp với sở thích, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp; bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cộng tác viên thể dục, thể thao cơ sở. Cách thức vận động, hướng dẫn luyện tập, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ đều phải lượng hoá bằng các tiêu chí về thời lượng tuyên truyền, tài liệu xuất bản, số người tham gia…[58]. Khoản 5 điều 11 về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức và doanh nghiệp đối với phát triển thể dục, thể thao quần chúng là tạo điều kiện để công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị mình tham gia hoạt động thể dục, thể thao. Những nhiệm vụ này cũng phải được chuẩn hoá để đánh giá được thế nào là tạo điều 9 kiện, phải chăng là tổ chức các hoạt động ngay tại cơ quan hay là cấp kinh phí thường xuyên cho mỗi thành viên đơn vị hoặc là chỉ tạo điều kiện về thời gian mỗi ngày [58].
Để thực hiện được các nội dung phát triển thể dục, thể thao quần chúng, Luật Thể dục, thể thao quy định rõ các giải pháp (biện pháp) như phát động phong trào thể dục, thể thao quần chúng (điều 12); chính sách phát triển thể dục, thể thao quần chúng trong các đối tượng người khuyết tật (điều 14); thể dục, thể thao cho người cao tuổi (điều15); luật quy định phát triển các loại hình thể dục, thể thao quần chúng phòng bệnh, chữa bệnh (điều 16), các môn thể thao dân tộc (điều 17), thể thao giải trí (điều 18), thể thao quốc phòng (điều 19). Riêng đối tượng là học sinh, sinh viên có mục 2 chương II về Giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường và đối tượng là cán bộ chiến sỹ trong lực lượng vũ trang có mục 3 chương II về Thể dục, thể thao trong lực lượng vũ trang [58]. Đánh giá phát triển thể dục, thể thao quần chúng không chỉ là đánh giá trong phạm vi một phong trào thể dục, thể thao quần chúng. Bởi, theo điều 12 quy định là phong trào thể dục, thể thao quần chúng được nhà nước phát động nhằm động viên khuyến khích mọi người tham gia tập luyện thể dục, biểu diễn và thi đấu thể thao, hình thành thói quen rèn luyện thân thể cho mọi người.
Như thế người có thói quen rèn luyện thân thể là người tập luyện thường xuyên, tiêu chí thế nào là người tập luyện thường xuyên và thế nào là gia đình thể thao thì luật giao cho Uỷ ban Thể dục thể thao nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định: "Phong trào thể dục, thể thao quần chúng được đánh giá bằng chỉ tiêu số người tập luyện thường xuyên và gia đình thể thao.