Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Thể Dục Thể Thao - Đại Học Sư Phạm TDTT Hà Nội
Chuyên khảo Khoa học tdtt: phương pháp & ứng dụng phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực giai đoạn 2020-2025
Trường đại học
Trường Đại học Sư phạm TDTT Hà NộiChuyên ngành
Thể dục thể thaoNgười đăng
Ẩn danhThể loại
Bài giảngPhí lưu trữ
35 PointMục lục chi tiết
Tóm tắt
I. Tổng Quan Nghiên Cứu Khoa Học TDTT Cách Tiếp Cận Mới 55
Khoa học là hệ thống tri thức về quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy. Mục đích cơ bản của khoa học là nhận thức thế giới khách quan. Khoa học hiện đại là động lực cho sự tiến bộ kinh tế - xã hội. Trong thể dục thể thao (TDTT), khoa học góp phần tăng cường sức khỏe, nâng cao thành tích, tối ưu hóa quản lý và cải tiến sản phẩm thể thao. Khoa học hiện đại có đặc điểm phát triển nhanh chóng, với cuộc cách mạng khoa học - công nghệ 4.0. Khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là cơ sở của sự tiến bộ kỹ thuật. Tuy nhiên, khoa học - công nghệ nước ta phát triển chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Đối với Ngành Thể dục Thể thao, không tiến hành nghiên cứu khoa học thì khó có thể đạt được những thành tích đáng kể. Khoa học thể dục thể thao được đặt ra như là một trong những điều kiện quan trọng hàng đầu để giải quyết thành công nhiệm vụ giáo dục thể chất, huấn luyện thể thao nói riêng và thể dục thể thao nói chung. Theo V.Lênin, lộ trình nhận thức là từ quan sát sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Một hình thức thực hiện và phát triển khoa học là nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học có đối tượng (khách thể) của nó. Mục đích nghiên cứu khoa học là: dựa trên cơ sở các nguyên tắc và phương pháp nhận thức đã được hoàn thiện trong khoa học xác định đối tượng cụ thể, nghiên cứu toàn diện và khách quan cấu trúc, đặc tính và mối quan hệ giữa chúng để gặt hái những kết quả hữu ích cho hoạt động con người, trên cơ sở ứng dụng các tiến bộ khoa học vào thực tiễn. Phương pháp là cách thức nghiên cứu dưới góc độ lý thuyết hoặc thực nghiệm các hiện tượng hay quá trình nào đấy. Hệ phương pháp, đó là tổng hợp các phương pháp, biện pháp, thủ đoạn, trình tự của chúng và các phương án được chấp nhận khi tiến hành nghiên cứu khoa học.
1.1. Đặc Điểm Của Khoa Học Hiện Đại Trong Thể Thao
Khoa học hiện đại hàm chứa sự phát triển như vũ bão, đặc biệt là trong kỷ nguyên 4.0. Khoảng 75% khối lượng tri thức khoa học của nhân loại đã được tích lũy chỉ trong 40 năm trở lại đây. Nhiều bộ môn khoa học mới nảy sinh như trí tuệ nhân tạo và điện toán đám mây. Khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đóng góp quan trọng vào năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Ví dụ, 1/3 giá trị sản lượng gia tăng trong ngành nông nghiệp nước ta là nhờ khoa học - công nghệ. Đảng và Nhà nước ta xem khoa học - công nghệ cùng với giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu.
1.2. Tầm Quan Trọng Nghiên Cứu Khoa Học Trong TDTT
Đối với ngành TDTT, đặc biệt là đối với cán bộ khoa học và giáo viên thể dục thể thao, việc nghiên cứu khoa học là vô cùng quan trọng. Điều này giúp giải quyết các vấn đề chưa được nghiên cứu đầy đủ hoặc chưa giải quyết đến nơi đến chốn. Cuộc sống thể dục thể thao ở nước ta có nhiều điểm khác biệt so với các nước khác, đặc biệt là trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Do đó, khoa học thể dục thể thao là một trong những điều kiện quan trọng hàng đầu để giải quyết thành công nhiệm vụ giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao. Sinh viên cần rèn luyện kỹ năng tổ chức và tiến hành nghiên cứu khoa học để đóng góp vào sự phát triển của ngành.
1.3. Hệ Thống Các Tri Thức Khoa Học Quan Trọng Như Thế Nào
Theo V.Lênin, lộ trình nhận thức bắt đầu từ quan sát sinh động, tiến đến tư duy trừu tượng và cuối cùng là thực tiễn. Sự kiện là không khí của nhà khoa học và là một bộ phận không tách rời của tri thức khoa học. Khái niệm là thành phần cấu trúc quan trọng của khoa học, và phân loại là sự trừu tượng chung nhất. Các nguyên tắc (định lý, quy tắc) là vị trí xuất phát của một lĩnh vực khoa học và là dạng sơ khai của việc hệ thống hóa tri thức. Các quy luật khoa học phản ánh những mối quan hệ bản chất nhất và ổn định nhất. Học thuyết là lý luận về các kinh nghiệm và thực tiễn đã được khái quát. Giả thuyết khoa học là nhận định cần được chứng minh và là kết luận giả định của nghiên cứu.
II. Thách Thức và Cơ Hội Nghiên Cứu Khoa Học TDTT 59
Phân loại khoa học là tìm ra những đặc điểm chung và mối quan hệ lẫn nhau giữa các khoa học. Theo viện B.Kêđơrốp, có thể phân loại khoa học thành khoa học triết học, khoa học toán học, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật, và khoa học xã hội. Ngày nay, các khoa học được chia thành ba loại lớn là khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên (bao gồm cả toán) và khoa học kỹ thuật. Thể dục thể thao nói chung là thuộc nhóm khoa học xã hội và nhân văn. Khoa học kỹ thuật là khoa học nghiên cứu về sự ứng dụng các thành tựu của khoa học tự nhiên vào trong trong lĩnh vực kỹ thuật công nghệ nhằm tìm ra các máy móc, thiết bị mới, các quy trình công nghệ mới. Đối tượng của thể dục thể thao là hoạt động sống của con người trong điều kiện vận động. Thể dục thể thao là một lĩnh vực hoạt động đa dạng, nên nghiên cứu khoa học thể dục thể thao có vận dụng kiến thức và thành tựu của nhiều lĩnh vực khoa học khác. Nghiên cứu khoa học trong thể dục thể thao đã thiết thực giải quyết những yêu cầu thực tiễn của cuộc sống thể dục thể thao. Nghiên cứu khoa học thể dục thể thao nói chung là sinh sau, đẻ muộn (nhất là ở nước ta) so với các lĩnh vực khoa học khác.
2.1. Phân Loại Khoa Học Tổng Quan Và Ứng Dụng
Phân loại khoa học là quá trình tìm ra những đặc điểm chung và mối quan hệ lẫn nhau giữa các ngành khoa học. Có hai cách phân loại phổ biến: phân loại theo lối hình thức (chủ quan) và phân loại dựa trên nguyên tắc khách quan. Ănghen đề ra hai nguyên tắc chung của phép biện chứng trong phân loại khoa học - nguyên tắc khách quan và nguyên tắc phát triển. Theo viện B.Kêđơrốp, khoa học có thể được phân loại thành khoa học triết học, khoa học toán học, khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Ngày nay, các khoa học thường được chia thành ba nhóm lớn: khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật. TDTT thuộc nhóm khoa học xã hội và nhân văn.
2.2. Đặc Điểm Nghiên Cứu Khoa Học Trong Thể Dục Thể Thao
Nghiên cứu khoa học trong TDTT là nghiên cứu thuộc lĩnh vực giáo dục, vì tập luyện thể thao là hoạt động có ý thức của con người. Nó chịu sự chi phối của các quy luật giáo dục thể chất. Do đó, nghiên cứu khoa học trong TDTT là nghiên cứu về con người dưới sự tác động của các quy luật sinh học và xã hội - nhân văn. TDTT là một lĩnh vực hoạt động đa dạng, nên nghiên cứu khoa học TDTT cần vận dụng kiến thức và thành tựu của nhiều lĩnh vực khoa học khác và có nhiều bộ môn khoa học khác thâm nhập vào TDTT. Nghiên cứu khoa học trong TDTT đã thiết thực giải quyết những yêu cầu thực tiễn của cuộc sống TDTT. Nghiên cứu khoa học TDTT nói chung còn non trẻ so với các lĩnh vực khoa học khác.
2.3 Các Loại Hình Nghiên Cứu Trong Thể Dục Thể Thao
Công tác nghiên cứu khoa học, không những chỉ có các nhà khoa học, các giáo viên, huấn luyện viên, nghiên cứu sinh và sinh viên tiến hành, mà còn cả các cán bộ quản lý, kỹ thuật viên… cũng tham gia. Nhưng như đã nói ở trên, khoa học thể dục thể thao về cơ bản là thuộc lĩnh vực khoa học giáo dục, vì vậy nghiên cứu ở đây thật đa dạng và có các loại hình khác nhau: có dạng là đề tài về phương pháp đơn thuần, có dạng là đề tài về phương pháp khoa học và có dạng là đề tài nghiên cứu khoa học.
III. Lựa Chọn Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học TDTT Đúng Cách 60
Để lựa chọn đề tài nghiên cứu phù hợp, nhà nghiên cứu cần xác định phương hướng của mình, trước hết là các hướng được ngành thể dục thể thao quan tâm, chỉ đạo. Đề tài phải mang tính cấp thiết, nghĩa là phải xuất phát từ nhu cầu lý luận và thực tiễn đòi hỏi. Đề tài phải mang tính chất thời sự, mới lạ về mặt khoa học vào những lĩnh vực sinh động, sôi nổi của thực tiễn thể dục thể thao và sức khoẻ con người hiện đại. Đề tài phải gây được tính hứng thú cao, tính hứng thú sẽ tạo ra sự say mê nghiên cứu, giúp nhà nghiên cứu sẵn sàng khắc phục khó khăn, sẵn sàng hiến dâng trí tuệ và sức lực của mình cho công việc. Đề tài nghiên cứu phải mang tính mới lạ về mặt khoa học. Đề tài phải phù hợp với trình độ nhà nghiên cứu, không chọn đề tài đòi hỏi năng lực làm việc cao hơn mức hiện có. Chọn đề tài cũng phải phù hợp với điều kiện nghiên cứu: Về đối tượng, về phương tiện sân bãi, dụng cụ tập luyện, trang thiết bị dụng cụ nghiên cứu, thời gian nghiên cứu và kinh phí cần thiết. Nên chọn đề tài hẹp về phạm vi, để có thể nghiên cứu sâu, triệt để và toàn diện.
3.1. Hướng Nghiên Cứu Phù Hợp Trong Ngành Thể Dục Thể Thao
Để lựa chọn đề tài nghiên cứu phù hợp, nhà nghiên cứu cần xác định phương hướng của mình, trước hết là các hướng được ngành thể dục thể thao quan tâm, chỉ đạo. Các hướng nghiên cứu hiện nay bao gồm: tuyển chọn vận động viên các môn thể thao, điều tra thể chất người Việt Nam, đào tạo và sử dụng cán bộ thể dục thể thao, huấn luyện thể lực cho vận động viên.
3.2. Yêu Cầu Đối Với Một Đề Tài Khoa Học Trong TDTT
Một đề tài khoa học trong TDTT cần đáp ứng các yêu cầu sau: tính cấp thiết, tính thời sự, tính hứng thú, tính mới lạ, phù hợp với trình độ nhà nghiên cứu và phù hợp với điều kiện nghiên cứu. Đề tài cần xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, mang tính mới lạ về mặt khoa học, và gây được hứng thú cho nhà nghiên cứu. Đồng thời, đề tài cần phù hợp với trình độ của nhà nghiên cứu và các điều kiện nghiên cứu có sẵn.
3.3. Các Cách Lựa Chọn Đề Tài Nghiên Cứu Hiệu Quả Nhất
Các nhà khoa học trẻ thường phân vân khi lựa chọn đề tài nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu có kinh nghiệm cần hướng dẫn họ đến với các cách lựa chọn sau: Thường xuyên theo dõi và tổng kết những thành tựu nghiên cứu khoa học của ngành. Tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực chuyên ngành hẹp. Phân tích thực tiễn học tập hay công tác, phát hiện những mâu thuẫn đang tồn tại. Tìm hiểu kết quả nghiên cứu mới nhất nằm ở ranh giới giữa các ngành khoa học. Nghiên cứu những phương pháp và biện pháp mới có hiệu quả cao. Nghiên cứu những đối tượng cũ nhờ phương pháp mới với quan điểm mới.
IV. Giai Đoạn Triển Khai Nghiên Cứu Khoa Học TDTT 60
Giai đoạn triển khai nghiên cứu có vai trò quan trọng nhất trong tiến trình nghiên cứu, nhằm thu thập và xử lý những nguồn thông tin của những đề tài nghiên cứu. Giai đoạn này được bắt đầu sau khi đề cương nghiên cứu khoa học chính thức được thông qua và kết thúc khi số liệu nghiên cứu được xử lý xong. Trong lĩnh vực thể dục thể thao, đối tượng nghiên cứu bao gồm: người tập thể dục thể thao; các sự vật và hiện tượng tập luyện; các con vật. Chọn đúng đối tượng nghiên cứu có ý nghĩa rất quan trọng, nhiều khi quyết định sự thành công của công việc nghiên cứu. Số lượng người tập càng đông, càng tốt, nhất là khi nghiên cứu trên người tập luyện vì mục đích sức khoẻ. Trong trường hợp này, số người tham gia mỗi độ tuổi hay mỗi trình độ, có thể lên tới hàng trăm, vài trăm người. Khi nghiên cứu triển khai đề tài, nhà khoa học có rất nhiều công việc cần làm, đặc biệt là khi thu nhận thông tin nhờ các phương pháp.
4.1. Lựa Chọn Đối Tượng Nghiên Cứu Các Yêu Cầu Cần Thiết
Đối tượng nghiên cứu phải cụ thể (ai, cái gì, con gì). Nếu là người tập luyện thì phải làm rõ về độ tuổi, giới tính, trình độ tập luyện và các loại trình độ khác (nếu cần). Chọn đối tượng người tập phải đủ về số lượng (ít nhất phải ≥ 30 người) để đảm bảo độ tin cậy khi xử lý bằng toán học. Đối tượng nghiên cứu phải phù hợp với nhiệm vụ của đề tài, phải đồng đều về trình độ tập luyện, lứa tuổi, giới tính, để bảo đảm tính đồng nhất, tính chất khách quan.
4.2. Chuẩn Bị Các Loại Mẫu Biểu Ghi Chép Hiệu Quả
Để thu thập thông tin nghiên cứu, cần chuẩn bị chu đáo các mẫu biểu nghiên cứu như phiếu trích dẫn, phiếu tóm tắt, phiếu phỏng vấn, biên bản quan sát, biên bản thử nghiệm và biên bản thực nghiệm sư phạm. Các mẫu biểu ghi chép phải phù hợp với vấn đề nghiên cứu và cách thu nạp thông tin. Cần xây dựng mẫu biểu sao cho thu thập thông tin đầy đủ, ghi chép nhanh chóng và xử lý thuận tiện.
4.3. Thu Thập Và Xử Lý Thông Tin Trong Nghiên Cứu
Thông tin nghiên cứu gồm hai loại: thông tin bằng lời miêu tả, phân tích và thông tin bằng các con số (số lượng). Đối với loại thông tin mô tả, diễn giải, nhà nghiên cứu phải có năng lực tổng hợp, hệ thống vấn đề, tìm ra những điểm chung, những nét riêng, những ưu điểm và nhược điểm của từng tác giả. Điều quan trọng nhất là nhà khoa học phải có chính kiến quan điểm của mình khi phân tích vấn đề dựa trên cơ sở khoa học. Đối với những thông tin là những con số, ngày nay trong nghiên cứu khoa học thể dục thể thao người ta thường sử dụng các thuật toán ứng dụng, phổ biến nhất là phương pháp toán học thống kê.
V. Viết Luận Văn Khoa Học TDTT Hướng Dẫn Chi Tiết 58
Một bản luận văn khoa học phải đạt được các yêu cầu sau đây: Phải có kết cấu mạch lạc, lôgic. Trình bày phải ngắn gọn, chính xác, có lý lẽ và có sự thuyết phục. Kết quả nghiên cứu phải cụ thể. Kết luận của luận văn khoa học phải có sức thuyết phục và kiến nghị phải có cơ sở khoa học. Hình thức trình bày phù hợp với bản luận văn. Một luận văn khoa học bao giờ cũng có kết cấu chặt chẽ và thường bao gồm các phần: Đặt vấn đề; Tổng quan vấn đề nghiên cứu; Phương pháp và tổ chức nghiên cứu; Kết quả nghiên cứu và bàn luận; Kết luận và kiến nghị; Phụ lục; Tài liệu tham khảo và Mục lục.
5.1. Các Yêu Cầu Cần Thiết Đối Với Luận Văn Khoa Học
Luận văn khoa học cần có kết cấu mạch lạc, trình bày ngắn gọn và chính xác, kết quả nghiên cứu cụ thể, và kết luận có sức thuyết phục. Hình thức trình bày phải phù hợp với bản luận văn. Luận văn phải có đầy đủ các phần như đặt vấn đề, tổng quan, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo.
5.2. Nội Dung Và Cách Trình Bày Phần Đặt Vấn Đề
Phần đặt vấn đề cần nêu lên những lý do xác đáng của việc lựa chọn đề tài nghiên cứu. Tác giả cần vạch ra sự đúng đắn của việc lựa chọn đề tài và làm cho độc giả thấy được tính bức bách, cấp thiết của việc nghiên cứu. Cần nêu tên đề tài nghiên cứu đầy đủ và mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu cần ngắn gọn và súc tích, còn nhiệm vụ nghiên cứu cần được hiệu chỉnh cho chính xác hơn.
5.3. Trình Bày Kết Quả Nghiên Cứu Trong Luận Văn
Phần trình bày kết quả nghiên cứu cần làm nổi bật cái tinh túy, cái mới, cái sáng tạo đã được làm sáng tỏ trong quá trình nghiên cứu. Cần trình bày các kết quả mà tác giả đã thu được và giải quyết được. Đó có thể là các số liệu phỏng vấn, các kết quả về quan sát - điều tra, kết quả nghiên cứu về lý luận hoặc kết quả thực nghiệm. Chỉ nên trình bày những tài liệu và số liệu liên quan đến việc giải quyết mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
VI. Đánh Giá Và Bảo Vệ Luận Văn Khoa Học TDTT 55
Mục đích của việc đánh giá nhằm: xem xét tính khách quan của các phương pháp nghiên cứu và hiệu quả của quá trình tổ chức nghiên cứu. Đánh giá chất lượng, giá trị đích thực của các tác phẩm khoa học, ý nghĩa của chúng đối với sự phát triển của khoa học và việc ứng dụng chúng trong thực tiễn sản xuất và đời sống. Đánh giá hoạt động của nhà khoa học hay tập thể các nhà khoa học trong sự phối hợp làm việc. Việc đánh giá phải dựa trên các chỉ tiêu và định mức cụ thể: đó là tính chân thực, mới lạ, sáng tạo, khoa học của đề tài; là giá trị lý luận và thực tiễn do kết quả của chúng mang lại.
6.1. Mục Đích Của Bảo Vệ Luận Văn Khoa Học
Mục đích của việc bảo vệ luận văn khoa học là xem xét tính khách quan của phương pháp nghiên cứu, đánh giá chất lượng và giá trị của tác phẩm khoa học, đánh giá hoạt động của nhà khoa học. Việc đánh giá dựa trên các chỉ tiêu như tính chân thực, mới lạ, sáng tạo, và giá trị lý luận và thực tiễn của đề tài.
6.2. Các Hội Đồng Đánh Giá Luận Văn Khoa Học
Có hai loại Hội đồng khoa học: Hội đồng nghiệm thu đề tài khoa học và Hội đồng đánh giá luận văn khoa học. Hội đồng nghiệm thu đề tài khoa học nhằm đánh giá các đề tài không giành học vị. Hội đồng đánh giá luận văn khoa học được thành lập cho luận văn tốt nghiệp Đại học, luận văn thạc sĩ, và luận án tiến sĩ.
6.3. Chuẩn Bị Luận Văn Luận Án Trước Hội Đồng
Công việc chuẩn bị để bảo vệ luận văn khoa học bao gồm: viết báo cáo khoa học, kẻ vẽ biểu bảng, sơ đồ, bảo vệ thử, và dự kiến các câu hỏi và đáp án trả lời. Báo cáo viên phải xây dựng báo cáo khoa học phù hợp với thời gian quy định và tập trung vào phân tích kết quả nghiên cứu. Cần dự kiến trước các câu hỏi có thể được đặt ra và chuẩn bị đáp án chi tiết để tạo sự tự tin và chủ động.